Nghêu được nuôi nhiều ở các tỉnh ven biển nước ta như Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và một số tỉnh duyên hải Bắc và Trung bộ.

"/> Nghêu được nuôi nhiều ở các tỉnh ven biển nước ta như Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và một số tỉnh duyên hải Bắc và Trung bộ.

" />

Nuôi nghêu vùng duyên hải

  • 11:34 ,24/07/2010

Nghêu được nuôi nhiều ở các tỉnh ven biển nước ta như Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và một số tỉnh duyên hải Bắc và Trung bộ.

Nghêu là loài phân tính đực cái riêng, chưa gặp hiện tượng lưỡng tính. Khi tuyến sinh dục thành thục, nó căng lên như hai múi bưởi, màu nâu nhạt. Nghêu sinh sản quanh năm, nhiều vào tháng 5 - 6. Một con nghêu cái có thể đẻ hàng triệu trứng một lần. Ấu trùng nghêu sống trôi nổi trong nước một thời gian thì hình thành vỏ rồi chìm xuống đáy. Nghêu “cám” bé bằng nửa hạt gạo, vỏ mỏng, dẹp, nặng 0,04 - 0,07 g (15.000 - 25.000 con/kg) vùi sâu xuống cát khoảng 1 cm, lên kiếm ăn theo thủy triều và thường bị sóng cuốn và dòng triều đưa đi tương đối xa, có khi dạt lên cao, bị phơi khô mà chết. Sau khoảng hơn 1 tháng, nghêu cám lớn thành nghêu giống, nặng 0,16 - 0,20 g (5.000 - 6.000 con/kg), vỏ đã tương đối cứng, có thể đem ươm ở các bãi.

Nghêu là loại động vật ăn lọc, 90% thức ăn là mùn bã hữu cơ, còn lại là sinh vật phù du - chủ yếu là tảo silic, tảo giáp, tảo lam, tảo lục và tảo kim. Nghêu ăn và tăng trưởng mạnh từ tháng thứ hai đến tháng thứ năm. Mưa lũ làm giảm độ mặn, khiến nghêu ít ăn và chậm lớn.

Khi nghêu tăng trưởng, khối lượng thịt tăng chậm hơn so với vỏ. Cứ 100 kg nghêu cỡ 35 - 37 mm (45 - 50 con/kg), ta thu được 7,7 - 8,3 kg thịt; nhưng với 100 kg nghêu to cỡ 49 - 50 mm (19 - 21 con/kg) thì chỉ thu được 6,7 - 7,3 kg thịt. Vì vậy không nên để nghêu quá lớn mới thu hoạch.

Chọn bãi nuôi

Chọn bãi nuôi ở vùng gần bờ, cách khoảng 500 m; không nằm sát các lạch sâu, không quá gần cửa sông (vùng nước ngọt đổ ra biển); cách xa nơi bị ô nhiễm từ nguồn nước thải nội địa, nhất là nơi thải của các loại hóa chất; ít bị sóng gió tác động, thuận tiện cho việc chăm sóc và quản lý. Mặt bãi cần bằng phẳng, không ứ đọng nước nhiều, có chế độ thủy triều lên xuống đều đặn, khi nước rút thì bãi hoàn toàn cạn (thời gian phơi bãi khoảng 5 - 6 giờ/ngày). Chất đáy là cát bùn, trong đó cát chiếm từ 70 - 90%.

Trước khi thả giống, cần nhặt bỏ các tạp chất có trong bãi, cắm cọc và rào lưới chắn xung quanh.

Giống

Nguồn giống được cung cấp chủ yếu từ các bãi tự nhiên, thường xuất hiện vào tháng 6 - 8 (giống nhỏ), đến tháng 1 - 2 năm sau thì đạt cỡ nghêu trung (nuôi thịt).

Lấy giống lúc triều xuống, dùng móc và lưới cào với mắt lưới thích hợp.

Vận chuyển giống: thời gian vận chuyển từ lúc thu đến lúc gieo giống không quá 10 giờ.

Thả giống: tùy theo mục đích nuôi mà thả cỡ giống và lượng giống khác nhau. Không dùng nghêu giống đã há miệng và có mùi ươn.

Cách thả: nghêu giống được rải đều trên mặt bãi cách đường ranh khoảng 5 - 6 m vào lúc triều lên để nghêu có thể vùi mình ngay sau khi thả, (không thả lúc phơi bãi).

Mật độ: với cỡ giống 200 con/kg thì thả khoảng 2 tấn/ha; cỡ 500 con/kg, thả 4 tấn/ha. Nếu thả giống cỡ nhỏ cỡ 3.000 - 4.000 con/kg thì cần 1 tấn/ha.

Mùa vụ và thời gian nuôi

Người ta thả giống để nuôi nghêu thương phẩm gần như quanh năm, tập trung vào tháng 1 - 3.

Thời gian nuôi phụ thuộc nhiều vào cỡ giống, mật độ thả và điều kiện bãi nuôi.

Chăm sóc và quản lý

Dựng các chòi canh trên mặt biển, lúc triều xuống cần có nhân công thu gom con giống bị sóng và thủy triều đưa vào bờ, đem thả lại vào chỗ nước sâu. Thường xuyên kiểm tra rào chắn, nhất là chân rào để nghêu không bị đẩy ra ngoài bãi nuôi. Nếu nghêu tập trung lại một góc hay một phía rào nào đó thì phải cào vén, san thưa. Thường xuyên quan sát tình trạng sinh sống của nghêu, nếu thấy chúng phân bố đều trên bãi, khi triều rút có nhiều “lỗ mày” thì điều ấy chứng tỏ chúng sinh trưởng tốt; nếu thấy các dấu hiệu bất lợi như nghêu tập trung ở từng khu vực, rong rêu phủ trên mặt bãi hoặc nghêu có hiện tượng tiết nhớt, cần xử lý kịp thời.

Cần theo dõi kỹ biến động mặt bãi (hiện tượng phá bãi) cũng như lượng phù sa bồi lắng để có hướng khắc phục kịp thời. Nếu phù sa vào bãi dày hơn 5 cm hoặc có hiện tượng phá bãi xảy ra thì tiến hành di chuyển nghêu đến bãi bằng phẳng hơn.

Theo dõi các yếu tố môi trường đặc biệt là độ mặn. Vào mùa mưa, di chuyển bãi nuôi nghêu ra xa hơn (nơi có độ mặn cao và ổn định), vào mùa nắng thì di chuyển bãi nuôi gần bờ. Cũng cần chú ý tới hàm lượng vật chất lơ lửng và chất dinh dưỡng do sông thải ra, các chất thải từ các khu vực kinh tế ven sông đổ ra làm thay đổi quần xã sinh vật đáy vùng triều, làm ốc mỡ phát triển mạnh và tấn công làm chết hàng loạt nghêu.

Khi triều xuống, đi thu bắt ốc mỡ trơn (Polynices didyma Bottem) và ốc mỡ hoa (Natica maculosa Lamarch) vì chúng ăn nghêu nhỏ.

Thu hoạch

- Thu hoạch nghêu lúc đạt kích cỡ vừa, sau 8 - 10 tháng nuôi. Chọn thu hoạch vào lúc cuối mùa mưa, là lúc nghêu mập, nặng ký, ngon.

- Tiến hành thu hoạch vào lúc triều rút, lúc chúng đã được ăn no và thải ra các thức ăn thừa thãi, chỉ giữ lại nước nên thịt nghêu sẽ rất sạch (ngược lại, lúc triều lên, nghêu thường ngậm cát, bùn).

- Năng suất nuôi nghêu trung bình là 20 - 25 tấn/ha, nhưng nếu người nuôi có kinh nghiệm và kỹ thuật cao thì có thể đạt 50 - 55 tấn/ha.

Đề phòng nạn nghêu chết

Hiện tượng: trước hết nghêu chui lên mặt bãi (“nổi đầu”), cơ khép vỏ lỏng ra, ống nước cũng lỏng ra và hết lực phun nước, màu vỏ nhạt đi, màu thịt từ trắng sữa chuyển sang đỏ tươi, rồi đen, hai vỏ mở ra rồi nghêu bị chết. Thời gian từ khi nghêu mới “nổi đầu” đến khi chết hàng loạt là khoảng 3 - 4 ngày.

Nguyên nhân: đa số nghêu chết vào tháng 6 - 7, lúc mưa nhiều, độ mặn thấp, nhiệt độ trên bãi quá cao, bãi không bằng phẳng, có chỗ nước đọng cũng dễ làm nghêu chết.

Bãi nuôi là vùng triều tương đối cao, thời gian nước rút tương đối dài, chất đáy cứng, nhiều bùn, cũng dẫn đến chết nghêu.

Môi trường xấu cũng làm chết nghêu. Khi nghêu chết, thịt thối rữa rất nhanh, gây ô nhiễm do tác dụng của vi sinh vật phân hủy, dẫn đến chết nghêu hàng loạt.

Phương pháp phòng ngừa: tăng cường quản lý, duy trì mật độ thả nuôi hợp lý, khống chế thời gian nuôi và khai thác; kịp thời loại bỏ hiện tượng nghêu “nổi đầu” và nghêu chết; san phẳng bãi nuôi.

KS. Phương Thanh
  • Hotline
    (028) 3920 1523
  • Email