Những lợi ích và tổn thương khi tán sỏi thận qua da

  • 11:56 ,01/09/2020

KHPTO - Nội soi tán sỏi thận qua da là phương pháp được ưu tiên lựa chọn hiện nay trên thế giới trong phẫu thuật điều trị sỏi thận với nhiều ưu điểm vượt trội so với mổ mở kinh điển. Bên cạnh những lợi ích, người bệnh cũng cần biết là phương pháp này vẫn có tỷ lệ nhỏ nguy cơ nhiễm khuẩn, chảy máu, tổn thương cơ quan lân cận, thậm chí tử vong...

Trong phẫu thuật tán sỏi thận qua da, bác sĩ tạo ra một đường hầm tiếp cận viên sỏi từ ngoài da tại vùng hông lưng. Đường hầm có kích thước khoảng 1 cm nên vết rạch da rất nhỏ, bác sĩ sẽ đưa thiết bị vào qua đường hầm này để tán vỡ vụn sỏi và lấy các mảnh nhỏ ra ngoài. Trong khi đó, nếu mổ mở, người bệnh sẽ phải chịu một đường mổ dài khoảng 15 cm ở vùng hông lưng. Vết mổ cắt đứt cơ vùng hông lưng, tổn thương thần kinh, xương sườn số 12 và mô xung quanh thận. Trong mổ mở, các lớp cân, cơ dùng dao điện để cắt đốt, bể thận hoặc kèm chủ mô thận được xẻ ra để lấy sỏi.

Ngoài ra, sau phẫu thuật, vùng quanh thận đã xâm lấn sẽ hình thành mô xơ dính. Do đó, nếu người bệnh có sỏi tái phát thì việc tiếp cận trong những lần sau khó khăn, tăng nguy cơ tổn thương như chảy máu, nhiễm trùng, phạm vào ruột, thoát vị vết mổ...

Lấy sỏi qua da thể hiện vai trò quan trọng trong điều trị cho các trường hợp sỏi thận tái phát. Kỹ thuật tạo đường hầm trực tiếp đến sỏi sẽ giúp giảm thiểu cảm giác đau do vết mổ ở các lần can thiệp sỏi tiếp theo. Điều này mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh.

Ưu điểm của lấy sỏi qua da so với mổ mở là người bệnh được điều trị ít xâm hại, bảo tồn chức năng thận, phục hồi nhanh sau mổ và thời gian nằm viện ngắn. Về mặt chỉ định, phương pháp này có thể áp dụng cho cả các trường hợp sỏi lớn hoặc thất bại với điều trị nội khoa hoặc tán sỏi ngoài cơ thể.

Tuy có nhiều ưu điểm vượt trội so với mổ mở, lấy sỏi qua da vẫn có một số biến chứng. Hướng dẫn điều trị sỏi niệu của Hội tiết niệu châu Âu (2018) đề cập một nghiên cứu phân tích gộp 12.000 trường hợp lấy sỏi thận qua da ghi nhận tỷ lệ biến chứng gồm: sốt 10,8%; truyền máu 7%; biến chứng liên quan lồng ngực (tràn khí, tràn máu, tổn thương phổi) 1,5%; nhiễm trùng huyết 0,5%; tổn thương nội tạng (thủng ruột, gan, lách) 0,4%; thuyên tắc mạch 0,4%; rò nước tiểu 0,2% và tử vong từ 0,04 - 0,8%.

Để đánh giá mức độ biến chứng sau lấy sỏi thận qua da, Hội tiết niệu châu Âu đã khuyến cáo dùng phân độ Clavien để đánh giá. Trong đó, Clavien 1 là quá trình hậu phẫu bình thường, Clavien 2 là cần truyền máu hoặc dinh dưỡng đường tĩnh mạch, Clavien 3 là có biến chứng cần can thiệp, Clavien 4 là những biến chứng đe dọa tính mạng, Clavien 5 là tử vong.

Trong phiên bản mới nhất (2020), sách Campbell-Walsh-Wein Urology, được xem là sách giáo khoa “gối đầu giường” của các bác sĩ chuyên ngành tiết niệu trên toàn thế giới nêu rõ: “Ngay cả đối với bác sĩ tiết niệu có kinh nghiệm nhất, các biến chứng có thể xảy ra sau phẫu thuật lấy sỏi qua da, với các biến chứng lớn lên đến 7% và các biến chứng nhỏ có thể đến 25%”. Tuy nhiên, tất cả những biến chứng này đều có tỷ lệ thấp hơn mổ mở.

Chảy máu là một biến chứng đáng kể sau tán sỏi thận qua da, vì thận là một cơ quan chứa nhiều máu. Nguyên nhân do rò động mạch hoặc giả phình mạch, cần thuyên tắc động mạch xảy ra ở khoảng 1% trường hợp. Không hiếm các trường hợp chảy máu nặng phải truyền máu, thậm chí cắt thận hoặc tử vong.

Nhiễm khuẩn huyết cũng là một biến chứng cần lưu ý sau lấy sỏi thận qua da với tỷ lệ ghi nhận trong y văn từ 0,97 - 4,7%. Nếu tình trạng đáp ứng kháng sinh kém, người bệnh có nguy cơ tử vong.

Tỷ lệ tử vong sau tán sỏi thận qua da từ 0,05 - 0,8%, thường liên quan đến nhiễm khuẩn khó kiểm soát sau mổ. Thậm chí, biến chứng nhiễm khuẩn huyết vẫn xuất hiện ở một số trường hợp có xét nghiệm nước tiểu sạch trước mổ. Lý do được giải thích là vì nước tiểu bị nhiễm khuẩn trên chỗ bế tắc và lượng vi khuẩn bám trên bề mặt sỏi bị phát tán ra ngoài lúc tán sỏi.

Biến chứng khác như tổn thương cơ quan lân cận (ruột, gan, lách, phổi...), thủng bể thận và niệu quản gây rò nước tiểu, nhiễm trùng... có thể xảy ra trong quá trình tạo đường hầm.

PGS.TS.BS. VŨ LÊ CHUYÊN

(Chủ tịch Hội tiết niệu - thận học Việt Nam)

  • Hotline
    (028) 3920 1523
  • Email