Ngày nóng, uống nước mát nấu từ thảo dược

  • 06:41 ,22/05/2020

KHPTO - Vào những ngày nắng nóng, nhiều gia đình thường nấu nồi nước mát từ thảo dược để giải nhiệt. Điều này rất có lợi cho sức khỏe bởi các loại cây cỏ dùng nấu nước đều có tác dụng làm mát cơ thể và phòng ngừa một số bệnh. Thành phần cây cỏ dùng để nấu nước mát cụ thể như sau:

Thành phần nước mát

Rễ cỏ tranh: loại rễ này đã được dùng làm thuốc từ 2.000 năm trước và là vị thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh... Cỏ tranh có ở nhiều quốc gia và ở mỗi nước, nó lại được dùng để chữa trị các loại bệnh khác nhau. Rễ cỏ tranh được kết hợp với vài loại thảo mộc khác để trị bệnh trĩ. Ngoài ra, rễ loại cây này được dùng để hạ sốt, trị nôn mửa, phù thũng, trị bệnh lậu và các rắc rối ở đường tiết niệu.

Rễ cỏ tranh có vị ngọt, tính hàn, vào các kinh tâm, phế, tỳ, vị và bàng quang. Có công năng thanh nhiệt, tiêu ứ huyết, lợi tiểu tiện, thanh phế nhiệt. Chủ trị các chứng như chảy máu cam, tiểu ra máu, bí tiểu... Lưu ý: người hư hỏa, phụ nữ mang thai không nên dùng.

Cây thuốc giòi: theo đông y, cây thuốc giòi có vị ngọt, nhạt, tính mát, có tác dụng chỉ khát, tiêu đờm, dùng chữa ho lâu ngày, ho do viêm họng, viêm thanh phế quản, ho khan, tiêu viêm, thông tiểu... Liều dùng trung bình cho mỗi ngày từ 10 đến 20 g, sắc uống. Loại thuốc này còn được dùng như thuốc điều kinh và cả để gây sẩy thai. Vì vậy phụ nữ có thai không nên uống nhiều loại thảo dược này.

Cây mía lau: theo đông y, mía lau vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, hạ khí, trợ tỳ, kiện vị, lợi đại tiểu trường, chỉ khát tiêu đờm, trừ phiền, giải độc rượu, giải được các sức nóng của thuốc. Mía lau trị hôi miệng, ho, họng sưng đau, hạ đường huyết, tân dịch bất túc, táo bón. Nước uống ngày nắng nóng: Mía lau 3 khúc, bỏ vỏ, chẻ ra thành những miếng mỏng. Rễ cỏ tranh 20 g, nấu lấy nước uống.

Lưu ý: ho do phong hàn (ho kèm đờm màu trắng) thì không nên dùng. Nếu mía mốc, có mùi rượu, là mía đã bị acid hóa không ăn được, nếu không có thể bị ngộ độc.

Cây mã đề: toàn thân cây chứa một glucosid gọi là aucubin hay rinantin, còn gọi là aucubosid. Trong lá có chất nhầy, chất đắng, carotin, vitamin C, vitamin K yếu tố T. Trong hạt chứa chất nhầy, acid plantenolic, adnin và cholin. Mã đề có tác dụng lợi tiểu, chữa ho, kháng sinh... Uống nước sắc mã đề, lượng nước tiểu tăng, trong nước tiểu lượng urê, acid uric và muối đều tăng. Nước sắc mã đề có tác dụng trừ đờm, tác dụng này kéo dài 6 - 7 giờ, mạnh nhất sau khi uống 3 - 6 giờ. Nước mã đề có tác dụng ức chế đối với một số vi trùng bệnh ngoài da.

Râu bắp: loại có sợi dài, dai, màu nâu hung, vị ngọt, khô mà mềm được coi là loại tốt cho sức khỏe. Theo y học cổ truyền, râu bắp có vị ngọt, tính bình. Quy kinh thận, bàng quang, có công năng lợi tiểu, tiêu thũng, thông mật, lợi mật, thanh huyết nhiệt, bình can, thoái hoàng, chỉ huyết. Râu bắp có chứa vitamin A, K, B1, B2, B6, H (biotin), C, PP; các chất đắng; dầu béo; vết tinh dầu và nhiều chất vi lượng khác. Vì thế khi uống nước râu bắp, có cảm giác ngọt, ngậy và mát.

Uống nước râu bắp hàng ngày có tác dụng làm tăng bài tiết mật, giảm độ nhớt của mật, tạo điều kiện dẫn mật vào ruột được dễ dàng, ngoài ra còn làm hạ đường huyết, tăng bài tiết nước tiểu và làm máu chóng đông. Sử dụng thường xuyên nước luộc râu bắp cho người sỏi thận hay sỏi bàng quang và niệu quản sẽ làm tan các loại sỏi tạo thành do urat, phosphat, carbonat.

Cây lẻ bạn lá lớn: hay còn gọi là cây hoa sò huyết, là một cây thảo, sống nhiều năm. Thường dùng hoa hoặc lá làm thuốc, dùng tươi hay phơi khô. Theo y học cổ truyền, cây lẻ bạn vị ngọt, nhạt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, chống viêm, cầm máu, nhuận phế, giảm ho, giải độc.

Cúc hoa: có vị ngọt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, giải cảm, giáng hỏa, mát gan, làm sáng mắt. Một số nghiên cứu còn cho thấy hoa cúc có thể giúp kháng khuẩn, kháng siêu vi gây cảm cúm, làm giãn mạch máu, hạ huyết áp, giảm mỡ máu, làm dịu căng thẳng thần kinh và giúp ngủ ngon.

Như vậy các loại thảo dược trên đều thuộc vào nhóm thanh nhiệt, lợi tiểu... nên sẽ có tác dụng làm mát, giải độc cho cơ thể.

Không nên lạm dụng nước mát

Theo PGS.TS. Nguyễn Thị Bay, trưởng bộ môn bệnh học - khoa y học cổ truyền - Đại học y dược TP.HCM, theo y học hiện đại, tuy nước mát giúp thanh nhiệt tốt nhưng lạm dụng các loại nước mát này thì cũng có khả năng nguy hại đến cơ thể, nhất là khi cơ thể đang có mắc một số bệnh mạn tính, vì ngoài công dụng giải khát, làm mát phế, vị, nhiều loại thảo dược dùng trong các loại nước mát, có tác dụng lợi tiểu. Tác dụng này một mặt hỗ trợ hạ nhiệt, hạ áp, an thần, làm người dùng thoải mái, nhưng mặt khác có thể có khả năng tương tác với một số tân dược làm giảm tác dụng của thuốc chính, hơn nữa dùng nhiều hoặc dùng lâu dài thuốc có chất lợi tiểu, có thể làm mất cân bằng điện giải, tăng đào thải, kém hấp thu một số vi chất cần thiết cho cơ thể như calci, kali... Còn theo y học cổ truyền, nếu thể chất người bệnh thuộc hàn, mà lại thường xuyên dùng các loại thuốc thanh nhiệt sẽ rất nguy hiểm, có thể gây tiêu chảy, mất tân dịch, chân âm hao tổn... (Hàn ngộ Hàn tắc tử). Để có sức khỏe, cần giữ được cân bằng âm dương, hàn nhiệt. Nếu gây ra mất cân bằng, tức là gây nên bệnh tật cho cơ thể. Dùng lâu một loại thuốc (kể cả thực phẩm), dù là thuốc bổ nếu dùng quá nhiều, cũng sẽ có ảnh hưởng không tốt đến cơ thể.

Chú ý đến mục đích sử dụng nước mát

- Khi cơ thể bị nhiệt, như cảm giác bứt rứt, khát nước, khô họng miệng, tiểu ít, da bị nhọt lở, miệng lưỡi lở... có thể sử dụng nước mát như nước uống thông thường nhằm giải độc cho cơ thể, hoặc tăng cường nước và vi chất cho cơ thể trong mùa nắng nóng ra mồ hôi nhiều.

- Khi cơ thể có đang mắc những bệnh cấp và mạn tính, cần phải được chỉ định và hướng dẫn sử dụng đúng mức như: đối với người đái tháo đường, không thể sử dụng công thức có mía lau; đối với suy thận mạn, tùy thuộc vào độ suy cần phải được tính toán kỹ kể cả dùng nước uống thường, khi sử dụng nước mát từ các dược liệu có chứa các ion và các vi chất, khó kiểm soát hàm lượng, có thể đưa đến tình trạng suy thận nặng hơn...

NAM HOA
  • Hotline
    (028) 3920 1523
  • Email