Nuôi cá ngựa cảnh - Thú chơi tao nhã

Chủ nhật, 24/10/2010, 10:35 GMT+7

Cá ngựa là loài cá có hình dáng kỳ lạ, đầu giống đầu ngựa, thân không có vảy, mõm hình ống, không có răng. Chúng thuộc nhóm cá chìa vôi (Syngnathoidei), chỉ có một giống là Hippocampus và xuất hiện cách đây ít nhất 40 triệu năm. Kích thước loài này thay đổi khá lớn: loài nhỏ nhất Hippocampus minotaur chỉ dài 10 - 20 mm, loài lớn nhất dài đến 300 mm (H. kelloggi). Do khả năng di chuyển chậm, để trốn tránh kẻ thù, cá ngựa thường sống ngụy trang trong các thảm cỏ biển, rạn san hô và có khả năng thay đổi màu sắc theo môi trường.

Đa phần cá biển là loài tạp giao (giao phối với nhiều cá thể khác nhau), nhưng cá ngựa là loài đơn giao, chúng sống với nhau rất chung thủy. Đây là lý do tại sao người phương Tây thích nuôi loài cá này trong nhà vì chúng biểu tượng cho hạnh phúc của gia đình. Theo ước tính của các chuyên gia, hàng năm trên thế giới hàng trăm ngàn con cá ngựa được nuôi làm cảnh, đặc biệt ở Mỹ, châu Âu và Singapore. Giá một con cá ngựa nuôi cảnh ở Hawaii là 70 - 300 USD, tùy theo loài và kích thước. Ở Việt Nam, giá cá ngựa xuất khẩu nuôi cảnh chỉ dao động từ 3 - 5 USD.

Nuôi cá ngựa cảnh là nghề chơi khá công phu, trước đây rất ít người nuôi vì cá thường chết sau một vài tuần lưu giữ. Lý do là cá ngựa nuôi được đánh bắt ngoài tự nhiên, không thích nghi được với điều kiện nuôi nhốt. Ngày nay, nhờ những thành tựu trong việc cho sinh sản nhân tạo, cá ngựa được thuần hóa từ nhỏ, nên chúng dễ dàng sống trong bể nuôi, nghề chơi cá ngựa trở nên phổ biến hơn. Khó khăn lớn nhất là cá ngựa ở tự nhiên chỉ ăn mồi sống, di động, cá chỉ ăn mồi “chết” sau một thời gian dài tập luyện. Việc luyện cá đòi hỏi người nuôi phải có tay nghề cao. Hiện nay Viện Hải dương học Nha Trang đã thành công trong việc khép kín chu trình nuôi cá ngựa, thuần hóa và chuyển đổi màu sắc của chúng. Kết quả này có thể ứng dụng để phát triển nghề nuôi cá cảnh ở nước ta.

Cá ngựa là loài “rộng muối”, chúng có thể sống ở độ mặn 20 - 35%o, nhiệt độ nước dao động từ 27 – 300 C. Cá có thể nuôi trong các bể kính có dung tích từ 100 - 300 lít nước biển, mật độ nuôi 1 con/15 lít nước. Yêu cầu bắt buộc đối với nuôi cá cảnh biển nói chung và cá ngựa nói riêng là phải sử dụng hệ thống nuôi tuần hoàn, qua lọc sinh học. Nuôi theo phương pháp này sẽ hạn chế thay nước và nhờ các vi sinh sống trong lọc sinh học, chuyển hóa các khí độc (NH3) có trong nước, thành khí ít độc hơn (NO3). Cá ngựa được cho ăn no, ngày một lần, bằng thức ăn đông lạnh (con ruốc hoặc Mysis). Hàng ngày phải hút (siphon) thức ăn thừa và các chất thải khác có trong bể nuôi. Thông thường, cứ sau hai tuần thì thay 1/3 nước nuôi để bảo đảm nước luôn luôn sạch. Bể nuôi nên trang trí đơn giản, phỏng theo sinh cảnh cá ngựa ngoài tự nhiên là cỏ biển hoặc rạn san hô nhân tạo, tạo cảm giác bắt mắt cho người xem. Như trên đã trình bày, cá ngựa có thể thay đổi màu sắc theo môi trường, cho nên khi nuôi cá ngựa trong bể kính cần phải thiết kế thành bể có màu sắc thích hợp để cá có thể chuyển màu. Màu mà cá ngựa nuôi thường chuyển là vàng, một ít trường hợp cá chuyển sang màu đỏ. Để làm được điều này cần phải làm cho đáy và mặt lưng của bể có màu xanh nước biển.

Cá biển nuôi cảnh thường mắc bệnh do nấm, vi khuẩn hoặc động vật đơn bào gây ra. Tốt nhất là nên phòng bệnh, bằng cách tắm định kỳ cho cá. Đối với cá ngựa, hàng tháng nên tắm formol 100 ppm, trong 1 - 2 giờ để phòng bệnh. Đây là biện pháp có hiệu quả cao nhằm bảo đảm cá sống lâu dài trong bể nuôi. Cá ngựa sinh trưởng nhanh, vòng đời tương đối ngắn chỉ 4 - 5 năm tuổi, cho nên khi mua cá ngựa làm cảnh, cần chọn những con có kích thước nhỏ từ 60 – 80 mm (3 tháng tuổi). Cá sẽ phát triển thành cá trưởng thành sau 3 - 4 tháng nuôi.

Nếu chăm sóc và nuôi tốt, cá có thể đẻ vào khoảng 6 tháng tuổi. Ở nước ta, nghề chơi cá cảnh biển chỉ mới phát triển trong vài năm gần đây, số lượng người nuôi không nhiều vì cá thường bị bệnh mà chết, cá ngựa có thể là một ngoại lệ vì những ưu điểm nói trên. Trong tương lai gần, một số loài cá biển sẽ được cho sinh sản nhân tạo ở nước ta (cá khoang cổ, amphiprion...) để phục vụ cho nghề nuôi cảnh và bảo vệ nguồn lợi các loài động vật có giá trị thẩm mỹ này.


TS. TRƯƠNG SĨ KỲ (Viện Hải dương học Nha Trang)

Viết phản hồi



 Ẩn email của tôi
 

Giới hạn tin theo ngày :   từ   đến