Nền giáo dục học tập suốt đời giúp phát triển bền vững

Thứ sáu, 27/11/2009, 00:11 GMT+7

Tại một hội nghị quốc tế vừa qua tại Nha Trang, các nhà khoa học trong cộng đồng ASEM đã trao đổi và chia sẻ với nhau về các quan niệm và tác dụng của học tập suốt đời trong việc phát triển bền vững của quá trình toàn cầu hóa giáo dục đang diễn ra. Bước vào thế kỷ XXI, liệu Việt Nam sẽ nhận thức lại như thế nào về một vấn đề có tính chiến lược trong việc cải cách nền giáo dục nước nhà để cùng tiến bước với các nước trong cộng đồng ASEM?

Tại khách sạn Yasaka - Sài Gòn ở Nha Trang đã diễn ra một hội nghị quốc tế với chủ đề “Tăng cường cơ hội và xóa bỏ rào cản để phát triển học tập suốt đời trong khối ASEM” trong 2 ngày cuối tháng 10 vừa qua.

Hội nghị do Bộ GD&ĐT Việt Nam, Bộ giáo dục Đan Mạch và Trung tâm đầu mối giáo dục học tập suốt đời của ASEM đồng tổ chức và chủ trì.

 

Quan niệm chung về học tập suốt đời

Trong phát biểu khai mạc, thứ trưởng Bộ GD&ĐT Việt Nam, TS. Nguyễn Thị Nghĩa cho rằng: “Xây dựng xã hội học tập gắn với việc học tập suốt đời cho mọi người là một xu thế mới trong quá trình phát triển của nhân loại, nhất là trong kỷ nguyên kinh tế tri thức và hội nhập toàn cầu. Đó cũng là cơ sở để phát triển kinh tế, khoa học công nghệ và con người trong thời đại mới”. Bà Nguyễn Thị Nghĩa còn nhấn mạnh: “Học tập suốt đời  ngày càng trở thành khâu khái niệm then chốt để cải cách giáo dục trong thế kỷ XXI. Nó  không chỉ là một khái niệm về tiếp tục trong chính sách giáo dục đã có mà đòi hỏi phải nghiên cứu và thực hành mới vì sự phát triển đúng đắn nhất cho hiệu quả của sự chuyển đổi giáo dục”.

TS. Arne Carlsen, chủ tịch Trung tâm học tập suốt đời của Bộ giáo dục Đan Mạch thuộc Đại học Aarhus, chuyên gia triết học nhận thức và khoa học, là người đã có 21 năm nghiên cứu về giáo dục học và đào tạo hàng ngàn sinh viên. Năm 1999, A. Carslsen chủ trì đề tài nghiên cứu “Học suốt đời, dân chủ và xã hội công dân - một so sánh, phân tích việc cải cách học suốt đời ở các nước Bắc Âu”. Theo A. Carlsen, giáo dục là yếu tố quyết định về phẩm chất con người, giáo dục tạo nên vị thế trong cạnh tranh kinh tế. Ngân hàng thế giới (WB), cho rằng trong thế kỷ XXI, nhân loại sẽ xây dựng một nền kinh tế toàn cầu phát triển và học tập suốt đời là một trong những công cụ hữu hiệu để thực hiện mục tiêu trên. UNESCO lại cho rằng thế kỷ XXI là thế kỷ thăng hoa của các nền văn hóa dân tộc truyền thống, các nền văn minh bản địa để tạo ra sự bình đẳng và an ninh xã hội, bảo đảm cho sự phát triển bền vững của toàn cầu hóa. Chính việc học tập suốt đời với nội dung thích hợåp sẽ thúc đẩy quá trình thăng hoa của các nền văn hóa truyền thống, các nền văn minh bản địa mà đã có lúc bị xem thường. Có ý kiến cho rằng, học tập suốt đời sẽ có tác dụng góp phần đem lại hạnh phúc cho người già, cho thanh thiếu niên hiếu học, tạo nên một nguồn nhân lực phát triển kinh tế - xã hội trong thế giới hiện đại khi công nghệ thông tin phát triển, nhất là ở các quốc gia có dân số già ngày càng nhiều, người về hưu ngày càng đông. Cũng có quan niệm cho rằng, học tập suốt đời là hạnh phúc của cá nhân, hạn chế được suy đồi đạo đức con người trong xã hội. GS. R.V. Tesse, Đại học Melbourne (Úc) cho rằng, học tập suốt đời là nhà nước tạo ra cơ hội cho mọi người có thể học tập suốt đời và đó là lợi ích của mọi người trong xã hội hiện đại. GS. Zhang Xinsheng, thứ trưởng Bộ giáo dục nước CHND Trung Hoa cho rằng, học tập suốt đời là vấn đề của các nước đang phát triển và đã phát triển, là một vấn đề phúc lợi xã hội để phát triển hài hòa và cạnh tranh trong phát triển hiện nay... Tại hội nghị Nha Trang, các nhà khoa học vẫn tiếp tục trao đổi và chia sẻ với nhau về các quan niệm và tác dụng của học tập suốt đời trong việc phát triển  bền vững của quá trình toàn cầu hóa giáo dục đang diễn ra.

 

Hướng đi của Hàn Quốc

Viện quốc gia giáo dục học tập suốt đời của Hàn Quốc (NILE) được thành lập từ tháng 3/2000 và cho đến cuối năm 2008 đã có mặt ở 16 tỉnh thành với 76 trung tâm hoạt động học tập suốt đời phục vụ nhân dân. Từ các tỉnh thành lớn như Seoul, Busan, Daegu, Gwanju... cho đến các tỉnh cực nam như Jeonnam, Gyeongnam... và hải đảo Jeju đều có các tổ chức học tập suốt đời đang hoạt động tích cực và đa dạng theo đặc điểm của địa phương. Nhà nước và chính quyền địa phương đã dành một nguồn kinh phí thích đáng cho các hoạt động học tập suốt đời, các trung tâm tư nhân chiếm một tỷ lệ còn rất bé nhỏ. Việc giảng dạy nhằm giúp cho người học có trình độ trung học phổ thông và trình độ dự bị đại học các ngành theo nhu cầu địa phương. Chế độ học theo hệ tín chỉ (credits) từ 80 - 120 và 140 tín chỉ để tốt nghiệp cho người muốn học không bị ràng buộc bởi tuổi tác, văn bằng trước đó. Hình thức học chủ yếu là dựa vào mạng lưới E. Learning để học tại nhà, học trong các đơn vị quân đội, học tại nơi làm việc. Viện NILE thống nhất các mục tiêu giảng dạy cho từng đối tượng, đào tạo giảng viên dạy các nội dung học tập suốt đời, tổ chức giao lưu giảng dạy giữa các trung tâm trong nước, tích cực tham gia hoạt động quốc tế trong khuôn khổ của tổ chức ASEM mà hội nghị Nha Trang là một ví dụ.

GS. In Joo Park, viện trưởng Viện NILE, đã nói với tôi: “Việc học tập suốt đời lúc đầu cứ nghĩ là việc học thường xuyên để giúp giải quyết việc làm cho người lao động trong độ tuổi lao động. Nhưng, với nhận thức mới, chúng tôi cho rằng, đó là một chính sách bảo đảm cho xã hội Hàn Quốc phát triển bền vững trong mọi tình huống không thuận lợi, là một nhân tố khắc phục sự khủng hoảng nhân lực trong xã hội hiện đại khi xã hội có nhiều người về hưu và gia tăng người già, nhiều tuổi trẻ muốn đi ngay vào nghề và bỏ học ở các trường phổ thông”. GS. In Joo Park cho biết, cái rào cản cần phải xóa bỏ đầu tiên là các quy định khe khắt về học bạ, năm học, bằng cấp phải nộp khi nhập học. Hàn Quốc đang nghiên cứu công bố chuẩn đầu ra thật nghiêm túc và xóa bỏ các thủ tục nhập học cũ. Bộ giáo dục Hàn Quốc đang nghiên cứu những hình thức văn bằng cho đối tượng học suốt đời tương đương với các bậc học trong nước và quốc tế thuộc cộng đồng ASEM.

Không chỉ có Hàn Quốc mà đại biểu các nước Brunei, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc trong khi trao đổi với tôi, họ cũng xác nhận hướng đi như Hàn Quốc và cho đó là một trong nội dung cải cách giáo dục của thế kỷ hiện nay, mặc dù các nước Bắc Âu và châu Âu trong khối ASEM đã đi trước họ khoảng 5 năm.

Việt Nam cũng đã thực hiện việc đào tạo thường xuyên, bổ túc văn hóa, học tập từ xa, đại học mở..., thực hiện xây dựng xã hội học tập. Nhưng, bước vào thế kỷ XXI, liệu Việt Nam sẽ nhận thức lại như thế nào về một vấn đề có tính chiến lược trong việc cải cách nền giáo dục nước nhà để cùng tiến bước với các nước ASEM mà Việt Nam là một thành viên?

GS. MẠC ĐƯỜNG

(Đại học Bình Dương)



Viết phản hồi



 Ẩn email của tôi
 

Giới hạn tin theo ngày :   từ   đến