Để dược liệu Việt Nam trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn

Thứ sáu, 04/04/2008, 15:54 GMT+7

“Hơn 90% nguyên liệu phải nhập khẩu, chủ yếu là sản xuất các dạng thuốc thông thường, để trị các bệnh thông thường...” - đó là báo cáo tổng kết công tác dược của Cục quản lý dược Việt Nam năm 2005 nói về sản xuất dược phẩm ở Việt Nam. KHPT xin giới thiệu ý kiến của DS. Nguyễn Tiến Hùng, chủ tịch hội đồng quản trị Công ty cổ phần y dược phẩm Vimedimex về vấn đề phát triển ngành dược liệu Việt Nam.

Nguồn dược liệu Việt Nam

Đã có khoảng 50 cây dược liệu xác định được vùng trồng và khoảng 20 cây dược liệu quý hiếm đang được các doanh nghiệp và nhân dân trồng, trong tương lai sẽ thành các vùng:

- Cây quế (Yên Bái, Quảng Nam, Thanh Hóa) với trữ lượng quế vỏ khoảng 20.000 tấn/năm, tinh dầu cất từ vỏ 20 tấn/năm.

- Cây hồi (Lạng Sơn) với trữ lượng hoa 100 tấn/năm, dầu hồi 30 tấn/năm.

- Cây hòe (Thái Bình, Nghệ An, Đăk Lăk) với trữ lượng 3.000 tấn hoa khô/năm.

- Thanh hao hoa vàng (Vĩnh Phú, Hà Nội, Bắc Giang) có thể sản xuất lớn đáp ứng cho cả Việt Nam và châu Phi với chất lượng tốt.

- Cây cúc hoa (Hưng Yên) nổi tiếng hơn 30 năm, nhưng số lượng còn ít.

- Cây tràm (Mộc Hóa, Long An, Thừa Thiên Huế, Tây Ninh) với trữ lượng 50 tấn/năm, rất thấp so với nhu cầu.

- Kim tiền thảo (Bắc Giang, Tây Ninh) với trữ lượng hàng nghìn tấn/năm.

- Long nhãn và ích mẫu (Hải Dương, Hưng Yên) với số lượng lớn.

- Gấc (Hải Dương, Bắc Giang) 100.000 tấn tươi/năm.

- Bụp dấm và dừa cạn (Ninh Thuận, Bình Thuận) rất có tiếng…

Nhờ sản xuất phát triển, đã có một số vùng dược liệu mới hình thành: bụp dấm, dừa cạn, diệp hạ châu (Bình Thuận, Ninh Thuận); kim tiền thảo, nhân trần (Tây Ninh); gấc (Hải Dương, Bắc Giang); đinh lăng (Bắc Giang, Hà Nam).

Bên cạnh đó một số vùng dược liệu đã biến mất do thu mua, tiêu dùng không ổn định, giá thành sản xuất không cạnh tranh được với dược liệu rác nhập khẩu từ biên giới: bạch chỉ, ngưu tất (Thanh Trì - Hà Nội); sinh địa (Bắc Giang); huyền sâm (Hà Giang, Tuyên Quang); hoài sơn (Hưng Yên)…

Đâu là nguyên nhân dược liệu Việt Nam chưa phát triển?

- Thị trường dược liệu không ổn định, dược liệu không phải là sản phẩm có thể dự trữ hoặc bán dễ dàng như nông sản. Khi nhu cầu giảm, nông dân và doanh nghiệp đều gặp khó khăn như chúng ta đã chứng kiến với cây thanh hao ở phía bắc, cây bạch chỉ, ngưu tất ở Thanh Trì, cây quế ở Quảng Nam, cây nghệ ở Tây Nguyên, cây lô hội và bụp dấm ở Bình Thuận.

- Dược liệu chất lượng kém từ biên giới, nhập khẩu không kiểm soát được bóp chết dược liệu trong nước.

- Kỹ thuật sản xuất chưa được một cơ quan chuyên môn nào lo (trong khi tất cả các cây lương thực, thực phẩm đều có nhiều viện nghiên cứu, với bao nhiêu sự đầu tư về nhân lực, vật lực của nhà nước), dẫn đến năng suất, chất lượng và giá cả không cạnh tranh được với nước ngoài và với cây trồng khác.

- Chưa có chính sách vĩ mô tầm quốc gia cho sản xuất dược liệu, sản xuất thuốc từ dược liệu, xuất khẩu dược liệu để dược liệu Việt Nam đứng vững và phát triển.

Đề xuất vùng quy hoạch

Nông dân muốn trồng cây dược liệu nhưng quy hoạch vùng, phát triển sản xuất dược liệu phải trên cơ sở có đơn đặt hàng, đơn hàng ổn định, giá thu mua hợp lý, được hướng dẫn kỹ thuật sản xuất - thu hái - chế biến.

Bốn tiêu chí lựa chọn vùng trồng dược liệu tập trung có hiệu quả:

- Cây thuốc đặc trưng của vùng sinh thái.

- Cây thuốc có chất lượng tốt, hiệu quả trong sử dụng.

- Giá thành sản xuất chấp nhận được và phù hợp với trình độ sản xuất.

- Có khả năng tổ chức chế biến hoặc sản xuất, tiêu thụ ổn định.

Đề xuất quy hoạch cho ba vùng sản xuất dược liệu tập trung (không kể các vùng hiện hữu) để nhà nước có chính sách và đề ra cơ chế phát triển như sau:

- Vùng trung du miền núi Đông Bắc (Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng Ninh): cây ba kích (50 tấn khô/năm), cây kim ngân (50 tấn hoa/năm), cây gấc (20 tấn dầu/năm), sinh địa (100 tấn khô/năm); ích mẫu (50 tấn cao khô/năm), màng tang (đang được nghiên cứu), thiên môn (20 tấn/năm); hoa hồi.

- Nam Trung bộ (Bình Thuận, Ninh Thuận): bụp dấm (200 tấn/năm), dừa cạn (200 tấn/năm), cây tinh dầu Vetiver (100 tấn tinh dầu/năm), lô hội (1.000 tấn lá tươi/năm).

- Tây Nguyên (Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng, Gia Lai, Kontum): các cây dược liệu có củ như bách bộ, hoài sơn, đảng sâm, bình vôi, sâm ngọc linh (500 tấn/năm), tinh dầu màng tang và hoắc hương (50 tấn tinh dầu/năm), cây kim ngân (50 tấn hoa/năm), thông đỏ (50 ha, tương đương 100 tấn lá khô/năm), hòe hoa (500 tấn dược liệu khô/năm).

Giải pháp cho sản xuất dược liệu theo tiêu chuẩn WHO-GACP

Quản lý chất lượng sản xuất dược liệu theo tiêu chuẩn thực hành nuôi trồng, thu hái và sản xuất tốt WHO-GACPlà một yêu cầu tất yếu, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Các tiêu chuẩn WHO-GACP đặt ra không khó hiểu, không phức tạp nhưng đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt và tính chuyên nghiệp trong sản xuất mà tập quán canh tác của nông dân Việt Nam chưa có, giá thành sản xuất chắc chắn sẽ tăng 15 - 20% so với sản xuất dược liệu cùng loại không theo GACP. Do vậy, cần phải có giải pháp, có cơ chế, có lộ trình tiến hành. Đề xuất:

- Quy định các danh mục phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nước tưới được dùng trong sản xuất dược liệu.

- Phân loại cây trồng phải áp dụng GACP. Ví dụ: các loại cây lấy hoa ngắn ngày, lấy lá, lấy củ cần phải thực hiện GACP; các loại cây trồng lâu năm, cây thân gỗ cao trồng phân tán, trồng xen không cần GACP.

- Xây dựng lại tiêu chuẩn nguyên liệu (dược liệu) và tiêu chuẩn thành phẩm (hoạt chất tinh, cao toàn phần, thuốc dược liệu), cấp số đăng ký cho dược liệu (cây trồng) và nguyên liệu (hoạt chất, cao toàn phần).

- Có chính sách khuyến khích, bảo hộ doanh nghiệp thực hiện GACP và GMP trong sản xuất.

Được biết, chính phủ đã ban hành Quyết định số 61/2007/QĐ-TTg, đặt ra mục tiêu “nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu triển khai và sản xuất thử ở quy mô pilot” và đầu tư 500 tỷ đồng để thực hiện mục tiêu trên, xây dựng ngành dược Việt Nam thành ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn. v



Viết phản hồi



 Ẩn email của tôi
 

Giới hạn tin theo ngày :   từ   đến