Một số đặc điểm nhận biết bệnh dịch tả heo châu Phi

  • 10:30 ,09/04/2019
KHPTO - Bệnh dịch tả heo châu Phi (tên tiếng Anh là African swine fever - ASF) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, do virus gây ra. Bệnh có đặc điểm lây lan, gây bệnh ở mọi lứa tuổi và ở mọi loài heo (cả heo nhà và heo hoang dã). Bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng, với tỷ lệ chết cao lên đến 100%.

Bệnh dịch tả heo châu Phi do một loại virus có sức đề kháng cao trong môi trường gây ra. Heo khỏi bệnh có khả năng mang virus trong thời gian dài, có thể là vật chủ mang trùng suốt đời, do vậy khó có thể loại trừ được bệnh nếu để xảy ra bệnh dịch.

Virus dịch tả heo châu Phi được tìm thấy trong máu, cơ quan, dịch bài tiết từ heo nhiễm bệnh và heo chết bởi bệnh này. Heo sau khi khỏi bệnh sẽ ở thể mãn tính, có thể mang virus suốt đời. Ngoài ra, ve mềm thuộc chi Ornithodoros là một vector sinh học trong tự nhiên. Virus này có sức đề kháng cao, có thể tồn tại trong chất tiết, dịch tiết, trong xác động vật, trong thịt heo và các chế phẩm từ thịt heo như xúc xích, jambon, salami. Virus có khả năng chịu được nhiệt độ thấp, đặc biệt là trong các sản phẩm thịt heo sống hoặc nấu ở nhiệt độ không cao, trong thời gian dài từ 3 - 6 tháng. Virus có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ 560C trong 70 phút hoặc ở 600C trong 20 phút. Virus sống trong máu đã phân hủy được 15 tuần; trong máu khô không được 70 ngày; trong phân ở nhiệt độ phòng được 11 ngày; trong máu heo ở nhiệt độ 40C trong 18 tháng; trong thịt dính xương ở nhiệt độ 390C được 150 ngày; trong jambon được 140 ngày và ở nhiệt độ 500C tồn tại trong 3 giờ.

Trong môi trường không có huyết thanh, virus có thể bị phá hủy ở pH < 3,9 hoặc ở pH > 11,5. Môi trường có huyết thanh, virus có thể tồn tại được ở pH = 13,4 trong 7 ngày; không có huyết thanh, virus có thể sống được 21 giờ.

Hóa chất để diệt virus dịch tả heo châu Phi bao gồm ether, chloroform và hợp chất iodine hoặc sử dụng sodium hydroxid với tỷ lệ 8/1.000 hoặc formalin với tỷ lệ 3/1.000 hoặc chất tẩy trắng hypochlorit chứa chlorin 2,3% hoặc chất ortho-phenylphenol 3% nhưng phải duy trì thời gian 30 phút.

Hóa chất diệt ve mềm (vật chủ trung gian): sử dụng các loại hiện nay.

Virus dịch tả heo châu Phi lây nhiễm qua đường hô hấp và tiêu hóa, thông qua sự tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với các vật thể nhiễm virus như: chuồng trại, phương tiện vận chuyển, dụng cụ, đồ dùng, quần áo nhiễm virus và ăn thức ăn thừa chứa thịt heo nhiễm bệnh hoặc bị ve mềm cắn.

Triệu chứng của bệnh dịch tả heo châu Phi

Chẩn đoán lâm sàng

- Thể quá cấp tính (Peracute) là do virus có độc lực cao, heo sẽ chết nhanh, không biểu hiện triệu chứng hoặc heo sẽ nằm và sốt cao trước khi chết.

- Thể cấp tính (Acute) là do virus có độc lực cao gây ra, heo sốt cao (40,5 - 420C); trong 2 - 3 ngày đầu tiên, giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu.

Heo không ăn, lười vận động, ủ rũ, nằm chồng đống, heo thích nằm chỗ có bóng râm hoặc gần nước.

Heo có biểu hiện đau vùng bụng, lưng cong, di chuyển bất thường, một số vùng da trắng chuyển sang màu đỏ, đặc biệt là ở vành tai, đuôi, cẳng chân, da phần dưới vùng ngực và bụng, có thể có màu sẫm xanh tím.

Trong 1 - 2 ngày trước khi con vật chết, có triệu chứng thần kinh, di chuyển không vững, nhịp tim nhanh, thở gấp, khó thở hoặc có bọt lẫn máu ở mũi, viêm mắt, nôn mửa, tiêu chảy đôi khi lẫn máu hoặc có thể táo bón, phân cứng đóng viên có kích thước nhỏ, có chất nhầy và máu.

Heo sẽ chết trong vòng 6 - 13 ngày hoặc có thể kéo dài đến 20 ngày. Heo mang thai có thể sẩy thai ở mọi giai đoạn. Tỷ lệ chết cao lên tới 100%. Heo khỏi bệnh hoặc nhiễm virus thể mạn tính thường không có triệu chứng, nhưng chúng sẽ là vật chủ mang virus dịch tả heo châu Phi trong suốt cuộc đời.

- Thể á cấp tính (Subacute) gây ra bởi virus có độc tính trung bình. Bệnh kéo dài 5 - 30 ngày, nếu máu ứ trong tim (cấp tính hoặc suy tim) thì heo có thể chết, heo mang thai sẽ sẩy thai, heo chết trong vòng 15 - 45 ngày, tỷ lệ chết khoảng 30 - 70%. Heo có thể khỏi hoặc bị bệnh mãn tính.

- Thể mãn tính (Chronic form) gây ra bởi virus có độc tính trung bình hoặc thấp, chủ yếu được tìm thấy ở Angola và châu Âu. Triệu chứng kéo dài 2 - 15 tháng, có tỷ lệ chết thấp, heo khỏi bệnh sau khi nhiễm virus gây nên bệnh sẽ trở thành dạng mãn tính.

Chẩn đoán phân biệt dịch tả heo châu Phi và dịch tả heo cổ điển

- Dịch tả heo châu Phi và dịch tả heo cổ điển khó có thể chẩn đoán phân biệt nếu dựa vào các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích. Vì vậy, trong mọi trường hợp, phải lấy mẫu xét nghiệm tại phòng thí nghiệm để xét nghiệm phát hiện mầm bệnh.

- Các bệnh khác cần được chẩn đoán phân biệt với bệnh dịch tả heo châu Phi bao gồm các bệnh: bệnh tai xanh (PRRS), đặc biệt là thể cấp tính; bệnh đóng dấu heo; bệnh phó thương hàn; bệnh tụ huyết trùng; bệnh liên cầu khuẩn do Streptococcus sui; bệnh Glasser; bệnh ký sinh trùng đường máu do Trypanosoma gây ra; hội chứng viêm da sưng thận do PCV2; bệnh giả dại ở heo choai và bị ngộ độc muối.

Lấy mẫu xét nghiệm

- Lấy mẫu máu heo đang sốt trong giai đoạn đầu, máu được chống đông bằng bổ sung EDTA 0,5%.

- Lách, các hạch bạch huyết, hạch amiđan bảo quản ở nhiệt độ 40C.

- Huyết thanh từ động vật khỏi bệnh lấy mẫu trong vòng 8 - 21 ngày sau khi heo nhiễm bệnh.

Phòng, chống bệnh dịch tả heo châu Phi

Hiện nay chưa có vaccin và thuốc điều trị đặc hiệu đối với bệnh dịch tả heo châu Phi vì vậy giải pháp phòng bệnh là chính, phát hiện và xử lý triệt để ổ dịch ngay từ khi ở phạm vi nhỏ và chưa lây lan.

Kiểm soát kiểm dịch nhập khẩu, kiểm soát vận chuyển heo, sản phẩm từ heo và chăn nuôi an toàn sinh học là các biện pháp chủ lực được các nước đã và đang áp dụng.

TS. HẠ THÚY HẠNH (Trung tâm khuyến nông quốc gia)
  • Hotline
    (028) 3920 1523
  • Email