Khảo sát thị trường sữa Việt Nam: Người tiêu dùng dễ dãi

  • 18:08 ,13/11/2009
Một nhóm nghiên cứu thuộc khoa quản lý công nghiệp, Trường đại học bách khoa, đã tiến hành khảo sát thị trường sữa ở TP.HCM (công bố vào tháng 10/2009), theo đó, giá sữa ở Việt Nam vẫn rất cao so với thế giới, trong khi đó người tiêu dùng lại chưa hiểu biết nhiều về sữa, dẫn đến tốn nhiều tiền mà chất lượng sữa mua được cũng không cao hơn.

Đánh đồng chất lượng sữa với sự nổi tiếng

Nếu như trước năm 1990, ngành sữa Việt Nam được xem là một ngành kém hấp dẫn, chỉ có một vài công ty sản xuất sữa với quy mô nhỏ, sản phẩm đơn điệu, sản lượng thấp, chỉ khoảng 12.000 tấn/năm, thì đến nay đã có hơn 25 công ty sản xuất và hàng chục nhà phân phối, văn phòng đại diện có nhập và bán sữa ở thị trường Việt Nam. Mức sản lượng sản xuất trong nước đã đạt 262.000 tấn, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt hơn 14%/năm trong suốt 5 năm trở lại đây, tuy nhiên mức sản lượng này cũng chỉ đáp ứng được 22% nhu cầu thị trường.

Người tiêu dùng ngày càng nhận thức rõ tầm quan trọng của sữa đối với sức khỏe, vì vậy họ sẵn sàng mua những loại sữa “tốt nhất” cho trẻ em. Chính vì nhu cầu và tâm lý đó, các nhà sản xuất rất thuận lợi trong việc định giá. Khi giá tăng, khách hàng thường than phiền nhưng vẫn chấp nhận và mua. Một đặc điểm khác của người tiêu dùng là tâm lý chọn sữa có chất lượng và có thương hiệu, và đôi lúc họ đánh đồng chất lượng với sự nổi tiếng. Các vụ sữa tươi làm từ sữa bột, sữa có chứa melamin, hay sữa không đúng như chất lượng công bố ngoài bao bì... đã làm cho khách hàng cũng như các cửa hàng tẩy chay những loại sữa không rõ nguồn gốc. Chính vì vậy, sản phẩm của những công ty có tên tuổi, hay nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đặc biệt là những sản phẩm được quảng cáo là sản phẩm chất lượng cao, thường là mục tiêu quan tâm của các bà nội trợ. Khi đã chọn cho mình một loại sữa đáng tin cậy, họ có khuynh hướng trung thành với nó. Tâm lý chuộng hàng ngoại của khách hàng cũng là một yếu tố đáng quan tâm. Họ chọn mua sữa ngoại nhập vì tin rằng sẽ tốt và an toàn hơn sữa nội, cho dù hai loại sữa được sản xuất theo cùng một công nghệ.

Ngoài ra, nhận thức của người tiêu dùng về sữa cũng còn hạn chế nên nhiều nhà sản xuất đã cố tình quảng cáo không đúng về sữa khiến cho người tiêu dùng luôn nghi ngờ khi tiếp cận những loại sữa mới hay những thương hiệu mới. Người mua thường nhầm lẫn các khái niệm sữa tiệt trùng và sữa UHT (ultra heat treatment - sữa được xử lý ở nhiệt độ cao) trong khi cả hai khái niệm này đều được các công ty sữa sử dụng để ám chỉ là sữa tươi. Do đó, một số nhà sản xuất đã tận dụng để quảng cáo các sản phẩm của họ là sữa tươi tiệt trùng và UHT, trong khi một số nhà sản xuất sữa lại sử dụng sữa bột nguyên liệu để sản xuất loại sản phẩm này.

 

Một thị trường béo bở cho các nhà sản xuất

Hầu hết các dây chuyền sản xuất sữa hiện nay đều nhập từ châu Âu và mỗi công ty đều có những bí quyết công nghệ sản xuất sữa riêng, do đó phẩm cách và chất lượng sữa của các nhà sản xuất cũng khác nhau. Bao bì cũng là một yếu tố công nghệ quan trọng. Để đảm bảo cho việc vận chuyển và lưu trữ sữa, cần phải có loại bao bì đặc biệt - loại chịu nhiệt cao để có thể qua hệ thống xử lý UHT và đảm bảo chất lượng sữa không đổi trong suốt thời gian lưu trữ (có thể lên đến cả năm). Loại bao bì UHT này trước đây do Công ty Tetrapak độc quyền cung cấp, nhưng gần đây Comblibloc cũng đã tham gia.

Hiện tại sữa nguyên liệu đến từ hai nguồn: nội địa và nhập khẩu từ nước ngoài. Việt Nam là một nước nông nghiệp nhưng hoạt động chăn nuôi lại phần lớn là manh mún - sản xuất nhỏ, năng suất thấp - vì thế lượng sữa nguyên liệu vẫn không đủ đáp ứng cho công nghiệp chế biến sữa cũng như nhu cầu tiêu dùng sữa trong nước và phần lớn phải nhờ vào các loại sữa nguyên liệu nhập từ nước ngoài, chủ yếu là từ New Zealand (32%) và EU (30%), Úc (10%) và Mỹ (9%).

Khủng hoảng kinh tế hiện nay ít tác động đến ngành sữa Việt Nam; nhu cầu tiêu thụ sữa ngày càng tăng. Vì vậy đây có thể xem là một thị trường đầy tiềm năng thu hút các nhà đầu tư tham gia vào thị trường. Giá bán lẻ sữa ở Việt Nam là khoảng 1,1 USD/ lít, cao hơn mức bình quân của thế giới và cao hơn nhiều so với giá thành sản xuất sữa. Nếu trừ đi các khoản chi phí sản xuất và phân phối sữa thì lợi nhuận của ngành vẫn đạt 28%, một mức sinh lời cao. Một điều kiện thuận lợi khác cho những người mới nhập ngành là mạng lưới bán lẻ đã có sẵn rộng khắp tại Việt Nam. Chính vì những thuận lợi này mà gần đây đã có hàng loạt những tập đoàn nước ngoài nhảy vào thị trường Việt Nam.

NHƯ HOA

  • Hotline
    (028) 3920 1523
  • Email