Đông y trị liệu thận có sạn

  • 20:25 ,08/07/2019
KHPTO - Thận có sạn thường làm tổn hại sức khỏe cho con người. Do sạn chạm vào thận nên gây ra sự đau đớn dữ dội ở eo lưng, lan tới bụng dưới và hội âm. Đồng thời cũng gây ra chứng buồn nôn hoặc ói mửa. Khi bệnh nặng thì mắt tái xanh, mồ hôi ra như tắm. Thận có sạn có thể kéo theo bàng quang có sạn. Lúc đó sẽ xảy ra chứng đi tiểu ra máu, bí tiểu, hoặc tiểu tiện khó khăn. Đông y cổ truyền thường dùng bài “Bát chính tán gia giảm” để trị liệu sạn thận.

Bài thuốc như sau: xa tiền tử (hạt mã đề) 20 g, mộc thông 8 g, cù mạch 12 g, biển xúc 12 g, hoạt thạch 40 g, cam thảo

6 g, chi tử 12 g, chế đại hoàng 8 g (bí đại tiện có thể dùng 12 g).

Cách dùng: nguyên là thuốc bột, thêm nước sắc đăng tâm thảo để uống. Hiện nay dùng làm thang sắc nước uống.

Công dụng: thanh nhiệt, tả hỏa, lợi thủy thông lâm.

Chủ trị: thấp nhiệt hạ trú ở bàng quang; tiểu tiện nhỏ giọt, đi tiểu nước tiểu ít, ngắn đỏ, đau dữ dội, niệu đạo viêm nóng đau.

Mộc thông, xa tiền, cù mạch, biển xúc, hoạt thạch, cam thảo là các vị thuốc lợi tiểu mạnh làm chủ dược bài thuốc. Đồng thời chúng có tác dụng thanh nhiệt.

Chi tử - đại hoàng tả hỏa, tiêu thấp nhiệt (nhưng nếu không có hỏa trong cơ thể thì không dùng hai vị này). Cách phối hợp các vị thuốc trên có tác dụng thông lâm (thông tiểu) và thanh nhiệt, lợi thủy.

Cách gia giảm:

Trong lâm sàng hay dùng để chữa các chứng bệnh viêm đường tiết niệu có sỏi khi thấy mình nóng, mạch xác, đại tiện bí thì nên dùng. Nếu đại tiện ra máu nên gia tiểu kế ẩm tử. Nếu có sỏi gia thêm các vị kim tiền thảo, thạch vĩ, hải kim sa, kê nội kim.

*Bài phụ phương thạch vĩ tán: gồm các vị thạch vĩ, cù mạch, xa tiền tử, mộc thông, đông quỳ tử, xích linh, tang bạch bì (rễ cây dâu), hoạt thạch, cam thảo hợp thành. Đại bộ phận là thuốc lợi thủy thông lâm. Tác dụng thanh nhiệt tuy không bằng bài thuốc trên. Vì vậy, bài này thường dùng để chữa bệnh sỏi đường tiết niệu, trong đông y gọi là thạch lâm. Trên lâm sàng thường gia thêm kim tiền thảo, hải kim sa, kê nội kim.LY. LƯƠNG MÃN Ý

Một số bài thuốc khác làm tan sỏi thận đã dùng khá hiệu nghiệm trong sách Thiên nga diệu phương
* Bài gia giảm trân kim thang: trân trâu mẫu 60 g, kê nội kim (màng mề gà sao) 12 g, lộ lộ thông 15 g, vương bất lưu hành 15 g, hải kim sa 15 g, phù thạch 15 g, tiểu hồi hương 9 g, trạch tả 12 g, mạch đông 9 g, ti qua lạc 12 g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Qua thực tiễn nhận thấy dùng bài này chữa bệnh kết sỏi ở các vị trí của hệ tiết niệu đều thu được kết quả tốt.
* Bài niệu lộ kết thạch thang: hải kim sa 15 g, kim tiền thảo 15 g, xa tiền tử 10 g, mộc thông 6 g, bạch vân linh 10 g, thanh bì, trần bì mỗi vị 10 g, hoạt thạch 12 g, hổ phách mạt 3 g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.
- Nhiệt nặng gia đại hoàng, sơn chi, cam thảo (sao). Thấp nặng gia ý dĩ nhân, thêm lượng trư linh.
- Nếu đau kịch liệt gia huyền hồ, tiểu hồi, xích thược, nga truật.
- Nếu khí hư gia đảng sâm, hoàng kỳ, hoài sơn.
- Nếu tiểu ra máu gia thêm bồ hoàng, đại tiểu kế.
- Thận hư gia thêm tang ký sinh, tục đoạn, thỏ ty tử, nhục quế, hắc phụ tử.
* Trục thạch thang: bài thuốc gồm kim tiền thảo 30 g, hải kim sa đằng 18 g, bạch thược 10 g, sinh địa 12 g, kê nội kim 6 g, hổ phách mạt 3 g (để ngoài khi được nước thuốc hòa uống), quảng mộc hương 5 g (cho vào sau), cam thảo 5 g. Sắc uống 1 ngày 1 thang, chia làm 2 lần.
* Kim hải bài thạch thang: kim tiền thảo 50 g, hải kim sa 15g, ý dĩ 12 g, cam thảo sao 12 g, đông quỳ tử 12 g, nhũ hương 9 g, ngưu tất 15 g, kê nội kim
10 g, tỳ giải 9 g, mộc thông 5 g, hổ phách mạt (bọc riêng đem nuốt). Sắc uống 1 ngày 1 thang.
* Phụ kim thang (chuyên trị sỏi thận và ứ nước bể thận): thục phụ tử 12 g, kim tiền thảo 30 g, trạch tả 10 g, thục địa hoàng 20 g (sắc uống 1 ngày 1 thang).
LY. LƯƠNG MÃN Ý
  • Hotline
    (028) 3920 1523
  • Email