Prague, thủ đô của nước Cộng hòa Czech, là một tập hợp nhiều công trình kiến trúc các kiểu. Những ngọn tháp theo kiểu Gothic cao vút bên những ngôi nhà thờ La Mã hoành tráng đi cùng với những mặt tiền nhà mang phong cách nghệ thuật hiện đại chạy dọc những cao ốc hình khối... Một đặc điểm của thủ đô này chính là sự hiện diện của các tháp đồng hồ, mọi chỗ mọi nơi! Già nhất, nổi tiếng nhất chính là cái đồng hồ thiên văn có tên là Orloj, trên vách thành phía nam của tòa thị chính khu Phố Cổ.

"/> Prague, thủ đô của nước Cộng hòa Czech, là một tập hợp nhiều công trình kiến trúc các kiểu. Những ngọn tháp theo kiểu Gothic cao vút bên những ngôi nhà thờ La Mã hoành tráng đi cùng với những mặt tiền nhà mang phong cách nghệ thuật hiện đại chạy dọc những cao ốc hình khối... Một đặc điểm của thủ đô này chính là sự hiện diện của các tháp đồng hồ, mọi chỗ mọi nơi! Già nhất, nổi tiếng nhất chính là cái đồng hồ thiên văn có tên là Orloj, trên vách thành phía nam của tòa thị chính khu Phố Cổ.

" />

Đồng hồ Orloj, cỗ máy 600 năm

  • 22:32 ,25/04/2011

Prague, thủ đô của nước Cộng hòa Czech, là một tập hợp nhiều công trình kiến trúc các kiểu. Những ngọn tháp theo kiểu Gothic cao vút bên những ngôi nhà thờ La Mã hoành tráng đi cùng với những mặt tiền nhà mang phong cách nghệ thuật hiện đại chạy dọc những cao ốc hình khối... Một đặc điểm của thủ đô này chính là sự hiện diện của các tháp đồng hồ, mọi chỗ mọi nơi! Già nhất, nổi tiếng nhất chính là cái đồng hồ thiên văn có tên là Orloj, trên vách thành phía nam của tòa thị chính khu Phố Cổ.

Chúng tôi đứng trên quảng trường Phố Cổ Prague, trời thật lạnh. Mọi người chen chúc tìm chỗ đứng gần những trụ sưởi trước các nhà hàng. Chúng tôi chọn một bàn ngoài trời đặt dưới một trụ sưởi để hưởng cái hơi ấm tỏa ra, nhấm nháp một ly vang nóng. Đã gần 12 giờ đêm. Chỉ còn vài phút nữa thôi, đám đông ùn ùn kéo về mặt nam của tòa thị chính, ngước mắt nhìn lên mong đợi. Cái gì thế? “Đồng hồ sắp đổ chuông đấy”, người bán xúc xích nóng nói. “Ai đến Prague cũng canh để ngắm chiếc đồng hồ có một không hai này đổ chuông vào mỗi đầu giờ”.

Orloj đẹp rực rỡ vốn đã thu hút mắt nhìn của du khách bởi những chiếc kim vàng lấp lánh và những bánh xe vàng chạm trổ tinh xảo. Và hình ảnh chiếc đồng hồ cổ như thêm phần lý thú khi giữa trời đêm lạnh ngắt, bên ly rượu vang nóng và cây xúc xích nóng hổi thơm lừng, chúng tôi nghe anh chàng bán xúc xích kể lại truyền thuyết về chiếc đồng hồ cơ khí độc đáo này. Ở Prague, mỗi góc đường, giếng nước hay tháp chuông... đều gắn liền với một truyền thuyết.

Chuyện kể rằng

Theo dân gian, đồng hồ được làm từ 600 năm trước và Hanus vĩ đại, người chế tạo ra nó đã bị các thành viên Hội đồng thành phố Prague lúc đó biểu quyết chọc mù mắt để ông không thể làm thêm một cái đồng hồ tương tự thứ hai cho một nơi khác. Quá uất ức, Hanus mù mắt lén leo lên tháp đồng hồ, phá hủy nó trước khi chết! Vì vậy, đồng hồ thiên văn Orloj đã bị hư hỏng và ngưng hoạt động suốt 50 năm sau đó. Thật ra trong 600 năm qua, đồng hồ cũng bị hỏng nhiều lầân, được sửa chữa và thêm thắt nhiều chức năng, trang trí... để ngày nay trở thành một tuyệt tác của Prague, một điểm thu hút khách du lịch quốc tế của Cộng hòa Czech.Chuyện dân gian là thế, mãi đến thập niên 1960, dựa vào những thư tịch cổ mới phát hiện, người ta mới biết tác giả thực sự làm ra Orloj, còn Hanus chỉ là người đầu tiên sửa chữa Orloj.

Theo Prague.net, đồng hồ thiên văn danh tiếng này được làm ra vào năm 1410 bởi thợ làm đồng hồ Mikulas ở Kadan, theo sự tính toán của Jan Ondrejuv hay còn gọi là Sindel - giáo sư toán học kiêm thiên văn học của Trường đại học Charles Prague. Petr Skala, người đang giữ trọng trách chăm sóc bảo trì chiếc đồng hồ ngày nay cho biết, trong khi những công trình tương tự cùng thời ở châu Âu đều đã hư hỏng và bị thay thế, bộ máy đồng hồ Orloj của Mikulas làm từ năm 1410 vẫn còn đến 80%. Số phận của Mikulas cũng không bi thảm như Hanus của truyền thuyết dân gian. Ông đã được tưởng thưởng một ngôi nhà ở Prague cho công lao thực hiện đồng hồ (lúc đó chỉ mới có một mặt đồng hồ thiên văn). Đến khoảng 1490, các trang trí kiểu gothic và mặt đồng hồ lịch bên dưới được Hanus thêm vào. Chuyện kể về Hanus chính là tác phẩm của nhà văn Alois Jirasek vào thế kỷ 19, đã nhầm lẫn khi cho Hanus là tác giả của đồng hồ Orloj, Prague, dù vậy vẫn được nhiều người dân Prague thích hơn. Sáng tác của Jirasek còn hư cấu rằng Hanus gieo một lời nguyền khiến cho những ai sửa chữa đồng hồ sẽ bị điên hay bị chết. Thêm nữa, mỗi lần đồng hồ hư hỏng, tai họa sẽ giáng xuống cho cả nước Czech. Và người ta nói trước khi Prague bị một trận lụt kinh hoàng năm 2002, Orloj đã ngưng mất mấy phút trước đêm giao thừa 31/12/2001(!).Sau lần tu sửa lớn năm 1552, Orloj còn ngừng nhiều lần nữa. Đến thế kỷ thứ 17, các pho tượng chuyển động được thêm vào. Ở lần sửa chữa lớn năm 1865, các tượng thánh tông đồ xuất hiện cầu nguyện mỗi giờ được thêm vào. Cuối thế chiến thứ hai, năm 1945, tòa thị chính nơi đặt Orloj bị trúng pháo cháy. Các công trình điêu khắc gỗ trang trí cho Orloj cũng cùng chung số phận. Máy đồng hồ được bảo vệ, sau đó đồng hồ Orloj được lắp đặt lại, các tượng thánh tông đồ bằng gỗ được tái dựng bởi nhà điêu khắc Orloj bắt đầu hoạt động lại từ năm 1948 đến nay.

Orloj - niềm tự hào của người dân Prague

Cũng đáng với niềm tự hào của người dân Prague, Orloj đẹp thật và cho thấy Czech thời Trung cổ đã có một trình độ khoa học đáng nể.

Thoạt nhìn, bạn sẽ bị thu hút bởi hai mặt đồng hồ thật to. Mặt trên là đồng hồ thiên văn với nhiều vòng tròn và chữ số bí hiểm. Hai cây kim mang dấu hiệu của Mặt trời và Mặt trăng. Đồng hồ thiên văn chỉ sự vận hành của các thiên thể trên bầu trời theo nhận thức về vũ trụ thời Trung cổ: Trái đất là trung tâm có Mặt trời và Mặt trăng quay chung quanh.

Có ba vòng tròn trên mặt đồng hồ thiên văn chỉ ba cách đếm thời gian khác nhau:

- Vòng ngoài cùng khắc chữ số kiểu Schwabacher chỉ giờ Czech cổ hay còn gọi là giờ Ý.

- Vòng ở giữa khắc chữ số La Mã chỉ giờ của Trung Âu.

- Vòng trong cùng khắc chữ số Ả Rập chỉ giờ Babylon: chiều dài của mỗi giờ khác nhau tùy theo mùa: dài hơn về mùa hè và ngắn hơn về mùa đông.

Orloj là đồng hồ thiên văn duy nhất trên thế giới còn chỉ giờ này.

Ngoài ra còn có một ngôi sao nhỏ trên vòng Hoàng Đạo (Zodiac) chỉ giờ thiên văn.

Phần mới nhất của Orloj chính là mặt tròn bên dưới là đồng hồ chỉ ngày. Vòng tròn bên ngoài chỉ các ngày của năm. Trên đỉnh là ngày hiện tại.

Cả hai mặt đồng hồ là hai tác phẩm nghệ thuật, nhưng cái thu hút các du khách chính là những bức tượng trang trí và màn trình diễn của các bức tượng đó mỗi đầu giờ.

Bên dưới hai bên mặt đồng hồ chỉ ngày là các tượng: nhà triết học, thiên thần, nhà thiên văn học và nhà chép sử.

Hai bên mặt đồng hồ thiên văn là các biểu tượng: sự kiêu căng tự phụ được thể hiện bằng một người mãi soi mình trong gương, trong khi người biển lận thể hiện qua hình tượng một anh chàng Do Thái ôm túi vàng lắc đầu từ chối. Bên phải là bộ xương - biểu tượng Thần chết và người Thổ Nhĩ Kỳ (thời kỳ đó châu Âu bị đe dọa bởi các cuộc tấn công của người Thổ).

Bên trên của hai mặt đồng hồ là một tượng thiên thần bằng đá, hai bên là hai ô cửa, trên cùng là một con gà bằng đồng.

Đám đông reo lên, đồng hồ chỉ 12 giờ đêm. Các bức tượng như sống lại trong tiếng reo của mọi người. Bộ xương Thần chết kéo dây chuông, người Thổ lúc lắc đầu từ chối, anh chàng biển lận nhìn vào túi tiền trên tay trong khi người kiêu căng vẫn mãi nhìn mình trong gương. Tiếng reo hò càng to hơn, hai cánh cửa bên trên bật mở, lần lượt các tượng thánh xuất hiện: thánh Pierre ôm chìa khóa thiên đàng to tướng, thánh Mat­thew cầm một cây búa... 12 vị thánh tất cả lướt ngang qua hai ô cửa. Khi vị thánh cuối cùng vừa khuất, chú gà đồng bên trên vỗ cánh gáy lên báo hiệu hoạt cảnh chấm dứt. Đám đông tản ra rồi lại sẽ tụ lại vào cuối giờ tới để lại ngắm nhìn. Cứ thế, quảng trường phố cổ rộn rịp gần như cả ngày đêm.

CÁCH ĐẾM GIỜ TRÊN ĐỒNG HỒ ORLOJ
Các nền văn hóa cổ đại và trung cổ lấy mốc đếm giờ là thời điểm mặt trời mọc. Thời điểm mặt trời mọc sẽ luôn luôn là bắt đầu của giờ thứ nhất (giờ số 0). Trưa - lúc mặt trời lên đến đỉnh đầu - là mốc tận cùng của giờ thứ sáu, và mặt trời lặn là mốc cuối của giờ thứ 12. Điều này có nghĩa là độ dài của giờ thay đổi theo mùa. Cách đếm này cần đến dụng cụ đo độ cao của thiên thể và đồng hồ thiên văn như người Babylon vẫn dùng.
Đây cũng là cách đo được dùng trong Halakha - luật của đạo Do Thái, thường được gọi là giờ Talmudic (“Sha’a Zemanit”) trong nhiều loại văn bản cổ. Giờ Talmudic vì vậy sẽ dài hơn về mùa hè và ngắn hơn về mùa đông.
Cách đếm giờ Ý, hay cách đếm giờ của người Czech cổ (old Czech time): giờ thứ nhất bắt đầu bằng giờ cầu kinh khi mặt trời lặn (sau chạng vạng, khoảng một giờ sau khi mặt trời lặn, tùy theo tập quán địa phương và vĩ độ của vùng). Giờ được tính từ 1 đến 24. Chẳng hạn như ở Lugano mặt trời tháng 12 sẽ mọc vào khoảng giờ thứ 14 và giữa trưa (lúc mặt trời ngay trên đỉnh đầu) là giờ thứ 19; tháng 6, mặt trời mọc vào giờ thứ 7 và giữa trưa là giờ thứ 15. Mặt trời lặn luôn luôn là cuối giờ thứ 24. Tuy nhiên đồng hồ nhà thờ thường chỉ ghi từ 1 đến 12. Cách đếm giờ này tiện lợi ở chỗ mọi người biết mình có bao nhiêu thời gian để hoàn thành công việc trước khi trời tối, được dùng rộng rãi ở Ý từ thế kỷ 14 cho đến tận giữa thế kỷ 18. Nó được chính thức bãi bỏ vào năm 1755 tuy một số vùng vẫn còn dùng đến tận giữa thế kỷ 19. Nó cũng được dùng ở Ba Lan và Czech đến thế kỷ 17. Một số đồng hồ cổ ở Ý đếm giờ theo cách này, trên mặt có đến 24 giờ bằng số La Mã hay số Ả Rập.
Uyên Thu
  • Hotline
    (028) 3920 1523
  • Email