Đi tìm những chiếc vạc đồng thời chúa Nguyễn

  • 10:10 ,18/01/2005

Đó là 11 chiếc vạc đồng độc đáo hiện còn tại đất Cố đô, được tạo nên cách đây hơn 300 trước. Tất cả những chiếc vạc này đều là bảo vật của Huế. Mỗi chiếc vạc đều là một tác phẩm nghệ thuật thật sự, thể hiện trình độ kỹ thuật và mỹ thuật tuyệt vời của người thợ xứ Huế.

Và điều đáng nói nữa là, xung quanh sự ra đời của những chiếc vạc trên lại gắn liền với không ít giai thoại lịch sử hoặc những huyền thoại lạ lùng.

Thực ra, chúng tôi không phải là người đầu tiên đề cập đến những chiếc vạc đồng của họ Nguyễn. Năm 1921, Chánh mật thám Trung Kỳ L.Sogny đã có một bài khảo cứu khá hay về 6 chiếc vạc thời các chúa Nguyễn; gần đây, Hồ Vĩnh cũng có một bài thống kê về 10 chiếc vạc thời kỳ này. Nhưng tựu trung chưa có một sự khảo cứu và thống kê đầy đủ nào về tất cả vạc đồng của họ Nguyễn tại Huế. Là người đi sau, chúng tôi chỉ mong muốn bổ sung và hoàn thiện công việc này.

Vạc ở đâu, bây giờ?

Căn cứ vào Từ điển Từ Hải, các từ điển chữ Nôm, Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ), có thể tạm phân biệt thành 2 loại: đỉnh là loại có chân, và vạc là loại không có chân, khi khảo cứu các vạc đồng của họ Nguyễn.

Theo cách phân loại trên, ở Huế hiện nay vẫn còn đến 15 chiếc vạc đồng. Nhưng không rõ tại sao hơn 80 năm trước Sogny chỉ khảo cứu được 6 chiếc vạc; bảng thống kê của Hồ Vĩnh cũng chỉ có 10 chiếc? Trong 15 chiếc vạc đồng này thì có đến 11 chiếc đúc thời các chúa Nguyễn, 4 chiếc còn lại đúc trong thời Minh Mạng.

Đây là 11 chiếc vạc được đúc trong thế kỷ XVII, từ năm 1631-1684, thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) và Nguyễn Phúc Tần (1648-1687). Nghĩa là khi ấy, Thủ phủ của họ Nguyễn còn đặt tại Phước Yên (1626-1636) và Kim Long (1636-1687) chứ chưa chuyển về Phú Xuân. Không rõ, nguyên xưa những chiếc vạc trên được đặt tại phủ chúa hay chỗ nào, nhưng hiện nay cả 11 chiếc vạc này đều đang được đặt tại các di tích của triều Nguyễn: 7 chiếc bên trong hoàng cung, 3 chiếc trước Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, 1 chiếc tại lăng Đồng Khánh. Tất cả các chiếc vạc trên đều có kích thước rất lớn, trọng lượng từ vài trăm cân đến vài ngàn cân. Tương truyền, tác giả của chúng lại là một ông Tây, một người Bồ Đào Nha lai Ấn Độ tên là Joaz da Cruz (hay Jean de la Croix) đã từng sống tại Huế trong thời gian trên. Cruz đến Huế vào nửa đầu thế kỷ XVII, sống tại Phường Đúc (khu vực đối diện phía thượng nguồn chùa Thiên Mụ), lấy vợ người Việt và được xem là người sáng lập ra ngành đúc đồng nổi tiếng của vùng đất này. Ông cùng con trai đã giúp chúa Nguyễn đúc rất nhiều vũ khí để phục vụ chiến tranh chống chúa Trịnh ở phía Bắc và công cuộc mở đất ở phía Nam. Để kỷ niệm cho các lần chiến thắng và cũng là để biểu thị cho uy quyền cùng sự trường tồn của dòng họ, chúa đã sai ông đúc những chiếc vạc to lớn này.

Tuy nhiên, theo chúng tôi, chiếc vạc đầu tiên thì chắc chưa có bàn tay và sự chỉ đạo của Cruz vì nó quá khác những chiếc còn lại. Ngoài ra, từ hình dáng đến kiểu thức trang trí nó đều có vẻ rất thuần Việt. Vạc được đúc năm 1631, thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, hiện đang được đặt ngay trước hiên điện Long An (hiện là tòa nhà trưng bày chính của Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế). Đây là một chiếc vạc có hình dáng rất lạ - tương tự một chiếc nồi kích thước lớn, cổ thắt bụng phình to, trên cổ có 4 quai được tạo dáng khá đẹp. Quanh thân vạc, gần trên cổ có trang trí. Điều đáng nói là từ trước đến nay chưa thấy ai đề cập đến chiếc vạc độc đáo này. Trên thân vạc có đề niên đại “Tuế thứ Tân Mùi nhuận trọng xuân”, tức năm 1631. Trọng lượng vạc 560 cân. Theo chúng tôi, chiếc vạc này chắc chắn do người Việt Nam đúc, còn đúc tại đâu thì quả thật chưa rõ.

Chiếc vạc thứ hai được đúc năm 1659, hiện được đặt phía trước điện Kiến Trung, bên trong Tử Cấm Thành Huế. Theo khảo cứu của L.Sogny, chiếc vạc này cho đến năm 1921 vẫn còn được đặt phía trước đồn binh Pháp tại khu Mang Cá Lớn, về sau qua thương thảo, người Pháp mới chịu cho triều Nguyễn chuyển nó vào bên trong Đại Nội. Trên miệng vạc có ghi rõ năm đúc là năm Thịnh Đức thứ 7 và trọng lượng 2154 cân (khoảng 1.378 kg). Tuy nhiên, Sogny có thắc mắc là, tại sao trên miệng đỉnh có khắc dòng chữ “nhất song” (nghĩa là một đôi) nhưng hiện còn chỉ 1 chiếc? Sogny cũng cho biết, hoàng tử Phụng Hóa (tức Phụng Hóa Công Nguyễn Phúc Bửu Đảo) sau này trở thành vua Khải Định thì cho rằng, chiếc vạc cùng cặp với chiếc thứ nhất hiện được đặt tại lăng vua Đồng Khánh, nhưng Sogny không nhất trí với quan điểm này. Lý do là chiếc vạc tại lăng Đồng Khánh được đúc sau đó đến 14 năm (năm 1673) và trọng lượng cũng chỉ bằng phân nửa chiếc vạc trên (1.013 cân).

Theo chúng tôi, chiếc vạc cùng cặp với chiếc vạc trước điện Kiến Trung hiện nay chính là chiếc đang được đặt phía trước, bên phải điện Long An; dù trọng lượng chiếc vạc này còn nhỏ hơn chiếc vạc tại lăng Đồng Khánh.

Chiếc vạc thứ ba này cũng được đúc vào năm 1659 nhưng không đề niên hiệu vua Lê mà đề niên đại theo Can Chi (Kỷ Hợi niên tứ nguyệt tạo đỉnh), trọng lượng của vạc chỉ là 560 cân, nhưng nó lại có cùng kiểu dáng và hình thức trang trí với chiếc vạc trước điện Kiến Trung. Cùng niên đại và cùng hình dáng, kiểu thức trang trí là nguyên nhân khiến chúng tôi khẳng định, hai chiếc vạc trên là một cặp được đúc cùng thời. Ngoài ra, có một chi tiết cũng rất đáng chú ý: trên miệng chiếc vạc thứ 2 này còn khắc 3 chữ Nội phủ tướng. Có lẽ đó là thời chúa Nguyễn Phúc Tần, chiếc vạc này vốn được đặt bên trong phủ chúa (?)

Chiếc vạc thứ tư và thứ năm có lẽ là một cặp được dự định đúc cùng thời nhưng thực tế lại cách nhau đến 2 năm, hiện đang được đặt trước sân điện Cần Chánh, bên trong Tử Cấm Thành. Đây là 2 chiếc vạc có kích thước và trọng lượng lớn nhất trong các vạc thời chúa Nguyễn. Chiếc thứ nhất đúc năm 1660 (năm Thịnh Đức thứ 8), trọng lượng 2482 cân; chiếc thứ hai đúc năm 1662 (Thịnh Đức thứ 10), trọng lượng 2425 cân; cả hai đều có đường kính miệng trên 2,2m, cao trên 1m. Hai chiếc vạc này có hình dáng và kiểu thức trang trí rất giống nhau, trên miệng vạc đều khắc 2 chữ Hán nhất song (một đôi).

Chiếc vạc thứ sáu đúc vào năm Cảnh Trị thứ 8 (1670), hiện đặt phía trước, bên phải Duyệt Thị Đường, nặng 938 cân. Chiếc cùng đôi với nó được đúc sau đó 1 năm (1671), hiện được đặt ở góc sân phía đông điện Thái Hòa. Chiếc vạc thứ bảy này nặng 896 cân, hình thức trang trí gần giống như chiếc thứ sáu.

Đôi vạc thứ tám và thứ chín cũng rất dễ nhận biết vì từ hình dáng đến kích thước đều tương tự nhau, tuy nhiên, niên đại đúc của chúng lại lệch nhau đến 13 năm. Đó là hai chiếc vạc đặt trước sân điện Càn Thành. Chiếc bên trái (nhìn từ trong ra) đúc năm Chính Hòa thứ 5 (1684), nặng 1395 cân; chiếc bên phải đúc năm Cảnh Trị thứ 10 (1671), nặng 1390 cân. Cũng như hai chiếc trước sân điện Cần Chánh, hai chiếc vạc này có lẽ đã được đặt tại đây từ rất sớm. Năm 1921, Sogny đã mô tả hai đôi vạc này khá kỹ.

Chiếc vạc thứ mười hiện được đặt trong khuôn viên phần tẩm điện lăng Đồng Khánh, phía đầu hồi nhà Hữu Vu (của điện Ngưng Hy). Vạc loại 4 quai, đúc năm Dương Đức thứ 2 (1673), nặng 1.013 cân. Tuy trên miệng vạc có đề 2 chữ Hán “nhị song” (tức 2 đôi) nhưng cho đến nay chúng tôi vẫn chưa tìm được chiếc vạc nào cùng cặp với chiếc vạc này.

Chiếc vạc thứ mười một hiện đặt phía trước hiên, bên trái điện Long An, được đúc vào năm Đinh Tỵ (1667). Chiếc vạc này nặng 560 cân, trên miệng có đề “nhất song” nhưng chúng tôi cũng chưa tìm ra chiếc cùng đôi với nó. Điểm đáng chú ý ở chiếc vạc này là trên miệng vạc có khắc 3 chữ “Tiền chính cung” tức nguyên xưa nó được đặt trước cung điện chính của phủ chúa (?).

Xứng đáng là bảo vật quốc gia

Mười một chiếc vạc thời chúa Nguyễn, trừ chiếc đầu tiên đúc năm 1631 thì 10 chiếc còn lại có thể chia làm 2 loại chính, dựa vào kiểu dáng và cách thức trang trí, là loại vạc 8 quai và vạc 4 quai.

- Loại vạc 4 quai gồm có 6 chiếc, trong đó có 2 chiếc đúc vào năm 1659, các chiếc còn lại vào các năm 1660, 1662, 1667 và 1673 (tức các chiếc số 2, 3, 4, 5, 10 và 11 theo thứ tự liệt kê trên). Đặc điểm chung của loại vạc này là 4 quai được đặt gần trên miệng và cao vượt quá miệng vạc, được tạo hình vặn xoắn kiểu dây thừng. Toàn bộ phần thân vạc được chia thành những lớp, những ô hình chữ nhật để trang trí. Tuy nhiên, cách trang trí trên thân vạc cũng có đặc điểm riêng, thường những chiếc cùng một đôi thì các mô típ trang trí gần như tương đồng nhau.

- Loại vạc 8 quai gồm có 4 chiếc đúc vào các năm 1670, 1671 (2 chiếc) và 1684 (tức các chiếc số 6, 7, 8 và 9 theo thứ tự liệt kê trên). Đặc điểm chung là 8 quai được đặt dưới miệng vạc một đoạn và cao không quá miệng vạc. Các chiếc quai kiểu này đều tạo hình đầu rồng có cổ vươn ra từ thân vạc, trông khá sinh động. Phần thân vạc không chia thành lớp hay ô hộc hình học để trang trí như loại vạc 4 quai mà chỉ trang trí phần trên, phía gần quai vạc. Mô típ trang trí cũng khác kiểu vạc trên rất nhiều. Nhưng cũng như loại vạc 4 quai, những chiếc cùng một đôi thì có mô típ trang trí gần tương tự nhau.

Tất cả 11 chiếc vạc trên dĩ nhiên đều không có chân đúc liền thân. Hiện nay, trừ 3 chiếc vạc đang đặt trước điện Long An được kê trên bộ chân (3 chiếc kiểu chân kiềng) bằng gang được tạo dáng khá đẹp và hài hòa với phần thân, các chiếc vạc còn lại đều được đặt trên các chân bằng đá Thanh khá mộc mạc. Có lẽ các bộ chân này đều được làm lại trong thời Nguyễn.

Chắc chắn là ngày xưa, Huế không chỉ có chừng ấy vạc đồng. Nhưng dù sao, với số lượng đó, Huế cũng có thể tự hào là nơi có được số bảo vật thuộc loại này phong phú nhất. Và như trên chúng tôi đã khẳng định, những chiếc vạc trên đều xứng đáng xếp vào hàng bảo vật của quốc gia. Những ai quan tâm đến nghề đúc đồng và mỹ thuật trên đồ đồng của cha ông, khi đến Huế, được chiêm ngưỡng bộ sưu tập đỉnh vạc này chắc cũng đủ cảm thấy thỏa mãn!

  • Hotline
    (028) 3920 1523
  • Email