Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc

  • 09:13 ,19/02/2020

Xe tăng tiến vào Dinh độc lập trong “Đại thắng mùa xuân” năm 1975.

KHPTO - Trong suốt 30 năm (1945 - 1975), Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân bảo vệ được thành quả của Cách mạng tháng Tám, thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn đất nước và đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)

Ngay sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, Đảng, Chính phủ và nhân dân ta phải đối diện với tình trạng “thù trong, giặc ngoài”: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm (ngân khố trống rỗng, nền kinh tế kiệt quệ, đầu năm 1945 có hơn 2 triệu người chết đói, hơn 90% dân số mù chữ; toàn bộ quân Pháp và Nhật chưa rút đi; 6 vạn quân Anh vào miền Nam, 20 vạn quân Tưởng vào miền Bắc với danh nghĩa giải giáp quân Nhật, song thực chất là hỗ trợ Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa).

Trong bối cảnh vận mệnh của cách mạng như “ngàn cân treo sợi tóc”, Đảng và Chính phủ, đứng đầu là Bác Hồ kính yêu đã đưa ra và thực hiện các quyết sách: phát động phong trào “Tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm” và “Hũ gạo cứu đói”; phong trào “Bình dân học vụ” để xóa nạn mù chữ và phong trào “Tuần lễ vàng” để góp phần chuẩn bị cho cuộc kháng chiến. Đối với bọn thực dân đế quốc, chúng ta chủ trương “hòa hoãn tạm thời” để tranh thủ điều kiện chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Pháp (không thể tránh khỏi).

Ngày 19/12/1946, thay mặt Đảng và Chính phủ, Bác Hồ đã ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”. Trong đó chỉ rõ: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!” và khẳng định: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Tuân theo “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, cả dân tộc Việt Nam muôn người như một, nhất tề đứng lên bước vào cuộc “Kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện”, “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc” theo phương châm đi từ thấp đến cao: “phòng ngự - cầm cự - phản công - tổng phản công” để giành thắng lợi hoàn toàn.

Với đường lối cách mạng đúng đắn nói trên và sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Bác Hồ, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã được kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Bác Hồ viết: “Điện Biên Phủ là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn”. “Đó là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét: “Trên phạm vi thế giới, với chiến thắng Điện Biên Phủ, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại: một dân tộc vốn là thuộc địa nửa phong kiến, đất không rộng, người không đông, kinh tế còn lạc hậu, vũ khí kém cỏi, đã đánh thắng quân đội xâm lược của một cường quốc phương Tây có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn, trang bị vũ khí hiện đại”.

Có thể nói, chiến thắng Điện Biên Phủ, trước hết là chiến thắng của đường lối cách mạng đúng đắn, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Bác Hồ kính yêu, đã phát triển khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam lên tầm cao mới, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam và đặc điểm mới của thời đại.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng của đức tính cần cù siêng năng, trí tuệ thông minh, tư duy sáng tạo của con người Việt Nam; đồng thời là chiến thắng của lòng yêu nước nồng nàn, ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, tinh thần đoàn kết, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc Việt Nam để đánh bại thực dân đế quốc xâm lược.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Genève, chấp nhận rút quân về nước, tôn trọng nền hòa bình, độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và Đông Dương. Tuy nhiên, ngay sau Hiệp định Genève được ký kết, đế quốc Mỹ đã nhảy vào xâm lược nước ta, dựng nên “ngụy quyền” và “ngụy quân” (chính quyền và quân đội làm tay sai cho đế quốc Mỹ ở miền Nam), buộc chúng ta phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)

Đặc điểm lớn, bao trùm và xuyên suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là: đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội đối lập nhau. Bên cạnh đó là, nền kinh tế của đất nước chậm phát triển, lại bị chiến tranh tàn phá, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn; chúng ta phải đương đầu với tên đế quốc “đầu sỏ”, tên “sen đầm quốc tế”, có tiềm lực kinh tế, quân sự to lớn và chính sách tàn bạo, đang đứng đầu hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới. Trong khi đó, hệ thống xã hội chủ nghĩa chưa thật mạnh, lại có những “rạn nứt” trong quan hệ giữa một số nước thành viên, đồng thời xuất hiện các xu hướng của chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa sô vanh... là những cản trở, tác động tiêu cực đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta.

Mang trong mình bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn, trung thành vô hạn với Tổ quốc và nhân dân, trên cơ sở nghiên cứu đánh giá đúng tình hình quốc tế và trong nước, bản chất và âm mưu của kẻ thù, lực lượng so sánh giữa các bên theo phương châm “biết địch, biết ta...”, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với đường lối cách mạng độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo, không chỉ phù hợp với quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam mà còn đáp ứng xu thế của thời đại. Đó là đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam nhằm mục tiêu giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc và đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trên thực tế, suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội, tạo ra hậu phương lớn để tập trung sức người, sức của chi viện cho miền Nam đánh Mỹ. Ở miền Nam, đã huy động tất cả các lực lượng yêu nước, các nguồn lực tập trung đánh đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai của chúng để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Để biến đường lối cách mạng nói trên thành hiện thực, Đảng ta đã phát động, tổ chức và lãnh đạo nhân dân tiến hành chiến tranh nhân dân với nội dung và hình thức đa dạng, phong phú (toàn dân, toàn diện đánh giặc; mỗi người dân yêu nước là một chiến sĩ; mỗi làng xã, khu phố, nhà máy, trường học, hợp tác xã, bệnh viện... là một pháo đài đánh Mỹ, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng...); phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân, kết hợp sức mạnh tổng hợp của dân tộc với sức mạnh của thời đại để đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận và đi đến đánh đổ hoàn toàn kẻ thù.

Thực tế 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cho thấy: tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, quân và dân cả nước đã đánh địch bằng nhiều hình thức, nhiều phương pháp, nhiều phương tiện, nhiều vũ khí... và cuối cùng đã làm phá sản ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Sau nhiều chiến thắng, nhất là thắng lợi của “Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968”, “Chiến dịch Nguyễn Huệ mùa hè năm 1972” và trận “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972 trên bầu trời Hà Nội, đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Paris lập lại hòa bình ở Việt Nam. Đặc biệt là, với “Đại thắng mùa xuân năm 1975”, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đã ghi một dấu son chói lọi trong lịch sử phát triển của nhân loại tiến bộ ở thế kỷ 20.

Với tất cả sự khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta có thể nói rằng, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước không chỉ khẳng định chân lý cách mạng sáng ngời của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại mới, mà còn là minh chứng sống động, đầy thuyết phục về sự lãnh đạo đúng đắn, tài tình và sáng tạo của Đảng ta và Bác Hồ kính yêu; rằng thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước không chỉ chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân đế quốc ở Việt Nam, mà còn mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử phát triển của nước ta - kỷ nguyên độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và cả nước đổi mới, quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa; và rằng, trong suốt 30 năm (1945 - 1975), Đảng ta đã tổ chức, lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, trong đó đã phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại để nhấn chìm và quét sạch tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và hội nhập quốc tế, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, với bản lĩnh chính trị vững vàng, trí tuệ khoa học và tư suy sáng tạo cùng với kho tàng kinh nghiệm cách mạng phong phú, nhất định Đảng và nhân dân ta sẽ thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đưa nước ta đạt mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Chiến thắng Điện Biên Phủ

PGS.TS. NGUYỄN THẾ NGHĨA

(Phó chủ tịch thường trực Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật TP.HCM)

  • Hotline
    (028) 3920 1523
  • Email