Chế tạo thành công chất kết dính chịu nhiệt sử dụng tro bay

  • 10:51 ,06/12/2018
KHPTO - Nhóm nghiên cứu Đỗ Thị Phượng, Trường đại học bách khoa Đà Nẵng, Lê Văn Trí, Trường đại học xây dựng Miền Trung, Vũ Minh Đức, Nguyễn Nhân Hòa, Trường đại học xây dựng đã nghiên cứu chế tạo chất kết dính chịu nhiệt sử dụng tro bay.

Trong các công trình chịu nhiệt thường dùng các loại vật liệu chịu lửa đơn chiếc, khó thay đổi hình dáng. Trong khi bê tông thông thường dùng Portland (OPC) bị suy giảm các tính chất dưới ảnh hưởng của nhiệt độ cao.

Bê tông chịu nhiệt có thể khắc phục cả hai nhược điểm trên, nó được chế tạo cốt liệu chịu nhiệt và chất kết dính (CKD) chịu nhiệt.  Bê tông chịu nhiệt có thể sử dụng nhiều loại chất kết dính khác nhau, tùy thuộc vào yêu cầu mức độ chịu nhiệt.

Ở Việt Nam, các công trình công nghiệp ở nước ta hàng năm hầu như vẫn phải nhập khẩu bê tông chịu nhiệt để sử dụng. Vì vậy, nghiên cứu chế tạo bê tông chịu nhiệt từ nguồn nguyên liệu trong nước, đặc biệt là sử dụng các phế liệu, phế thải mang tính cấp thiết. Tro bay sử dụng trong nghiên cứu là FA chưa tuyển của Nhà máy nhiệt điện Ninh Bình.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, có thể sử dụng nguyên liệu sẵn có ở Việt Nam để chế tạo CKD chịu nhiệt sử dụng trong bê tông chịu nhiệt. Xác định ảnh hưởng của hàm lượng phụ gia khoáng nghiền mịn (PG) đến một số tính chất của đá CKD ở các cấp nhiệt độ. Khi hàm lượng phụ gia tăng lên ở cùng một mức nhiệt thì khối lượng thể tích, độ co và cường độ nén của đá CKD giảm. Nhiệt độ tăng, khối lượng thể tích và cường độ nén giảm, độ co lại tăng. Đến 200°C, mức độ giảm khối lượng thể tích và tăng độ co có xu hướng không cao, trong khi cường độ nén của đá CKD lại tăng với tốc độ lớn. Trên 200°C thì khối lượng thể tích và cường độ nén giảm mạnh, độ co tăng cao. Từ 600 - 800°C là khoảng nhiệt độ bắt đầu nhận thấy ảnh hưởng của hàm lượng PG đưa vào.

Trên 800°C, mẫu không có PG hoàn toàn bị phá hủy, một số mẫu đá CKD với hàm lượng PG thích hợp tạo ra nhiều khoáng mới có khả năng bền nhiệt và cường độ cao, khiến tốc độ suy giảm, cường độ của đá CKD ở giai đoạn này có xu hướng giảm dần.

Nghiên cứu  này đã mang lại ý nghĩa thực tiễn lớn, góp phần giải quyết vấn đề môi trường, tiết kiệm vật liệu xây dựng chủ yếu và giảm giá thành sản phẩm.

Nhóm nghiên cứu cho rằng, cần khảo sát thêm FA của các nhà máy nhiệt điện khác để đưa ra khuyến cáo khi sử dụng. Trong nghiên cứu này mới chỉ ở mức độ sử dụng một loại PG, nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng PG đến cường độ nén của đá CKD, hướng nghiên cứu tiếp theo sẽ kết hợp các loại PG nhằm phát huy hiệu quả của mỗi loại ở các cấp nhiệt độ, đồng thời nghiên cứu ảnh hưởng của nhiều yếu tố đến cường độ nén cũng như khả năng chịu nhiệt của đá CKD.
N.H
  • Hotline
    (028) 3920 1523
  • Email