Cần đẩy mạnh phát triển cơ giới hóa để phục vụ sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long

  • 09:53 ,14/10/2020

Máy gặt đập liên hợp lúa, năng suất 4 - 5 ha/ngày.    

KHPTO - Lúa gạo được xem là một trong những ngành sản xuất chiến lược và là thế mạnh của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Hàng năm, vùng này sản xuất được từ 23 - 25 triệu tấn lúa, chiếm 56% tổng sản lượng lúa của cả nước và cung cấp khoảng 90% lượng gạo xuất khẩu của cả Việt Nam.

Dẫu vậy, thu nhập bình quân đầu người ở vùng ĐBSCL vẫn còn thấp, chỉ khoảng 40,2 triệu đồng/người/năm, trong khi bình quân của cả nước là 47,9 triệu đồng/người/năm. Đây là một nghịch lý đối với vùng đất phương Nam này.

Tình hình cơ giới hoá sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long

Hiện nay, ĐBSCL có gần 2,8 triệu hộ làm nông nghiệp. Tuy nhiên, số hộ có máy kéo và máy nông nghiệp (NN) còn khá thấp, bình quân khoảng 62 hộ mới có 1 máy kéo.

Mặc dù có cao hơn cả nước (1,16 HP/ha) nhưng mức độ trang bị động lực cho nông nghiệp ở ĐBSCL cũng chỉ ở mức khoảng 2 HP/ha, là con số rất thấp nếu so với các nước trong khu vực.

Thật vậy, mức độ trang bị động lực cho nông nghiệp của Thái Lan hiện nay đã đạt 4 HP/ha, Hàn Quốc đạt 4,2 HP/ha, Ấn Độ và Trung Quốc đạt trên 6 HP/ha.

Nhìn chung, mức độ cơ giới hóa trong sản xuất lúa ở ĐBSCL cũng còn thấp và không đồng đều giữa các khâu.

Khâu làm đất đạt khoảng 95% so với nhu cầu, bơm nước đạt khoảng từ 95 - 100%; gieo sạ bán cơ giới đạt khoảng từ 70 - 75%; thu hoạch đạt từ 70 - 75%. Trong đó, sử dụng máy gặt đập liên hợp đạt khoảng từ 55 - 60%; sấy lúa đạt khoảng từ 60 - 65%; bảo quản đúng yêu cầu kỹ thuật chỉ đạt khoảng 20% và xay xát lúa gạo đạt trên 95%.

Những thách thức và cơ hội đối với cơ giới hoá sản xuất lúa ở ĐBSCL

Về điều kiện sản xuất, nhìn chung sản xuất lúa của vùng ĐBSCL vẫn còn nhỏ lẻ, có thu nhập thấp và chưa được bền vững.

Về mặt chế tạo máy móc nông nghiệp, các cơ sở chế tạo máy móc trong vùng ĐBSCL còn rất ít và yếu cả về công nghệ, thiết bị lẫn nguồn nhân lực.

Hơn nữa, máy móc nông nghiệp chế tạo ra có chất lượng thấp, chưa được tiêu chuẩn hóa và kiểm định chất lượng chặt chẽ. Điều này gây khó khăn và lãng phí trong việc bảo trì, sửa chữa và sử dụng máy móc thiết bị nông nghiệp.

Trong nhiều năm qua, mặc dù là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của cả nước nhưng chưa có một trung tâm đào tạo và tập huấn sử dụng máy móc, thiết bị nông nghiệp.

Về mặt đầu tư mua sắm máy móc nông nghiệp, nhìn chung nông dân trong vùng thu nhập còn thấp nên chưa đủ khả năng đầu tư các loại máy móc để canh tác trên mảnh ruộng của mình.

Mặt khác, bản quyền và sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực thiết kế, chế tạo máy móc nông nghiệp chưa được bảo vệ tốt.

Hầu hết các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp về nông nghiệp cho đến nay không còn đào tạo kỹ sư và cán bộ cơ khí nông nghiệp. Vì vậy, công tác nghiên cứu, phát triển, đào tạo và tập huấn sử dụng máy móc nông nghiệp hiện nay rất thiếu và ngày càng khan hiếm. Đó cũng là những rào cản lớn cho sự phát triển ngành công nghiệp chế tạo máy nông nghiệp và phát triển cơ giới hoa sản xuất nông nghiệp của Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng.

Việc đầu tư của Nhà nước, tư nhân và trực tiếp của nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực cơ giới hoa nông nghiệp cũng còn rất thấp.

Bên cạnh đó, Nhà nước vẫn chưa có chiến lược quốc gia để phát triển bền vững và lâu dài cho ngành cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp. Thông qua một số chủ trương và chính sách, Nhà nước chỉ mới hỗ trợ vốn vay và lãi suất cho nông dân để mua sắm thiết bị máy móc mà chưa có những hỗ trợ thích đáng và có hiệu quả cho các nhà máy chế tạo máy nông nghiệp Việt Nam

Do đầu tư trong lĩnh vực cơ giới hóa nông nghiệp thường có hiệu quả thấp so với các lĩnh vực khác, và do thu nhập của doanh nghiệp cơ khí và nông dân hiện nay chưa cao, nên việc đầu tư cho nghiên cứu và ứng dụng máy móc nông nghiệp từ các thành phần này hầu như không đáng kể. Chính vì vậy, sự đầu tư hay hỗ trợ của quốc tế trong lĩnh vực cơ giới hóa nông nghiệp hiện nay còn rất hiếm.

Định hướng phát triển cơ giới hóa sản xuất lúa cho vùng ĐBSCL

Định hướng phát triển cơ giới hóa sản xuất lúa cho ĐBSCL cần xem xét lại những thế mạnh của nước ta trong lĩnh vực này, cũng như đánh giá những tiềm năng và điều kiện sản xuất cụ thể, cùng những khó khăn và thuận lợi của ĐBSCL.

Cụ thể, cơ giới hóa phục vụ sản xuất lúa cho ĐBSCL trong thời gian tới phải giảm được giá thành, đảm bảo tốt hơn chất lượng của lúa gạo, nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành sản xuất lúa và xuất khẩu gạo của ĐBSCL, đồng thời nâng cao thu nhập cho nhà chế tạo máy móc, người sử dụng máy và nông dân trồng lúa.

Trong thời gian tới, cần tiếp tục đầy mạnh phát triển cơ giới hóa ở tất cả các khâu canh tác và sau thu hoạch lúa.

Hiện nay, các khâu gieo cấy, bón phân, phun thuốc trừ sâu, làm khô và bảo quản lúa còn yếu về mặt ứng dụng cơ giới hóa.

Dây chuyền xay xát lúa với năng suất từ 3 - 6 tấn/giờ.

Trong cơ giới hóa các khâu canh tác lúa, để tăng năng suất và chất lượng làm việc trong điều kiện nền đất yếu và kích thước lô thửa nhỏ hẹp của ĐBSCL, các loại máy kéo 4 bánh, cỡ công suất từ 30 - 60 HP nên được ứng dụng rộng rãi hơn để thay thế dần những máy kéo 2 bánh có công suất nhỏ hơn.

Bên cạnh đó, các loại máy móc nông nghiệp được thiết kế để ứng dụng trong thời gian tới nên có xu hướng tăng tốc độ và độ chính xác làm việc hơn là tăng bề rộng làm việc và độ lớn của thiết bị.

Trong lĩnh vực chế tạo máy, để giảm khối lượng nhưng tăng độ bền làm việc và hạn chế ăn mòn trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm của ĐBSCL, các chi tiết máy nên được làm bằng các loại hợp kim nhẹ hay phi kim loại.

Để từng bước ứng dụng tự động hóa, GIS, GPS và cách mạng công nghiệp 4.0 trong tương lai thì các cơ cấu truyền động cơ khí trong các loại máy nông nghiệp nên được thay thế bằng các loại truyền động thủy lực hay khí nén, và được điều khiển bởi các bộ phận điện, điện tử, bán dẫn. Thêm vào đó, sự an toàn trong sử dụng thiết bị máy móc nông nghiệp cũng nên chú trọng hơn từ khâu thiết kế, chế tạo đến các quy tắc vận hành trong sử dụng.

Ngoài ra, cần chú trọng việc cơ giới hóa khâu làm đất, thu hoạch, sấy lúa, bảo quản lúa…

Một số vấn đề về chính sách và phát triển khác

Về mặt chính sách: Nhà nước cần có một chiến lược phát triển dài hạn với những giải pháp toàn diện, căn cơ và bền vững. Điều này cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, địa phương, các đơn vị nghiên cứu, doanh nghiệp có liên quan và nông dân.

Hợp tác giữa các đối tác: cần tăng cường hơn nữa sự hợp tác chặt chẽ giữa các đơn vị nghiên cứu, đào tạo, doanh nghiệp cơ khí chế tạo và cung ứng máy móc nông nghiệp, nhóm dịch vụ cơ giới nông nghiệp và người nông dân.

Về mặt chế tạo máy móc và thiết bị nông nghiệp: Nhà nước cần có những dự án khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là ở ĐBSCL để đầu tư nâng cấp công nghệ và thiết bị chế tạo các loại máy móc và thiết bị cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, nhà nước cần hỗ trợ các khoa cơ khí nông nghiệp của các trường đại học, cao đẳng khu vực phía Nam để đào tạo nguồn nhân lực thiết kế và chế tạo máy móc. Song song đó, Nhà nước cũng cần có các cơ chế để khuyến khích các doanh nghiệp chế tạo máy, đặc biệt là các doanh nghiệp cơ khí, chế tạo máy lớn ở TP.HCM để cùng phối hợp, nghiên cứu và chế tạo máy móc nông nghiệp cho vùng ĐBSCL.

Về mặt giám định, đào tạo, tập huấn và tổ chức sử dụng máy: Nhà nước cần xúc tiến thành lập các trung tâm khảo nghiệm, đánh giá cấp quốc gia hay cấp vùng để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chất lượng máy móc, thiết bị nông nghiệp; đồng thời, thành lập mới một vài trung tâm huấn luyện cấp vùng để tăng cường tập huấn sử dụng, bảo trì và sửa chữa máy móc cho nông dân và các nhóm dịch vụ cơ giới nông nghiệp. Tăng cường hơn nữa công tác khuyến nông và ứng dụng thiết bị máy móc vào sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, cũng cần có những giải pháp để củng cố, khuyến khích và nhân rộng các mô hình dịch vụ cơ giới hóa nông nghiệp, góp phần đẩy mạnh cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp của vùng ĐBSCL. Mở rộng giao lưu hợp tác nghiên cứu với nước ngoài để thúc đẩy nhanh việc chuyển giao và ứng dụng các thiết bị máy móc mới, hiện đại vào sản xuất lúa ở ĐBSCL.

Mở rộng quy mô sản xuất và nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn: Nhà nước cần khuyến khích mở rộng kích thước lô thửa, quy mô sản xuất của nông hộ; tiếp tục cải thiện đường sá nông thôn và giao thông nội đồng để việc di chuyển và sử dụng các loại máy móc, thiết bị nông nghiệp được thuận lợi và hiệu quả hơn.

Bài, ảnh: TS. PHẠM VĂN TẤN

(Phó giám đốc Phân viện cơ điện nông nghiệp & công nghệ sau thu hoạch - SIAEP).

  • Hotline
    (028) 3920 1523
  • Email